truheredudor

* Visitos since June 2011

free counters

* Visitos since February 2013

Flag Counter

Phone :

0903884387

Kiến thức Nhiếp ảnh 1

 

Special thanks to The Masters all over the world, these are for study only

Những hình ảnh và bài viết trích đăng sau đây chỉ với tinh thần học hỏi. Xin các bậc Thầy niệm tình bỏ qua. Trân trọng cám ơn

MỤC LỤC - CONTENT

  1. Carl Zeiss
  2. AF-S Nikkor 70-200mm F/2.8G ED VR II (N)
  3. Tamron SP AF 70-300mm F4-5.6 Di VC USD
  4. Leica
  5. Tokina AF 50 - 135mm f/2.8 AT - X Pro DX ( For Nikon )

Special thanks to The Masters all over the world, these are for study only

Những bài viết và hình ảnh trích đăng sau đây chỉ với tinh thần học hỏi. Xin các bậc Thầy niệm tình bỏ qua. Trân trọng cám ơn

1. Carl Zeiss

 

Soạn giả : konica baby

Carl Friedrich Zeiss (1816-1888)
Carl Friedrich Zeiss (1816-1888)

 

 

 

 

 

 

 

Carl Zeiss là một trong những nhà sản xuất ống kính nổi tiếng nhất của Đức. Công ty được thành lập tại Jena năm 1856 và được gọi là Carl Zeiss Jena.

Karl Ernst Abbe (1840 – 1905)
Karl Ernst Abbe (1840 – 1905)

 

 

 

 

Phải kể đến một phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển của Carl Zeiss là việc sở hữu sản xuất máy ảnh Zeiss Ikon vào năm 1926 cho đến khi họ chấm dứt sản xuất máy ảnh Zeiss Ikon vào năm 1972. Trong bề dầy lịch sử (46 năm) lâu dài ấy, Carl Zeiss cũng đã trang bị thêm được nhiều nhà sản xuất máy ảnh.

 

 

 

 

Carl Zeiss đã cộng tác với đối tác là Ngài Karl Ernst Abbe *, khi ấy họ sản xuất kính hiển vi và chuyên đo khúc xạ, đó là một dụng cụ quang học để đo chỉ số khúc xạ của thủy tinh dùng trong quang học.

Máy ảnh Zeiss Ikon
Máy ảnh Zeiss Ikon

 

 

Vào năm 1888, Carl Zeiss mất, Karl Ernst Abbe đã thành lập thương hiệu Zeiss và xây dựng nó lại trên cơ sở sản xuất thấu kính quang học dành cho ngành nhiếp ảnh, tuy nhiên cũng phải giảm thời gian làm việc hàng ngày của các công nhân của công ty xuống chỉ còn 8 giờ/ ngày.

Carl Zeiss có các nhà khoa học như ngài Paul Rudolph (1858-1935) người đã tạo ra các công thức thiết kế khởi đầu cho ống kính Tessar, Planar, Biogon, và Sonnar.
1890: thiết kế ống kính anastigmat - "protar"
1895: thiết kế ống kính Planar
1899: thiết kế ống kính Unar
1902: thiết kế ống kính Tessar
1918: thiết kế ống kính Plasmat

Máy ảnh Carl Zeiss PalmOS
Máy ảnh Carl Zeiss PalmOS

Năm 1909 máy ảnh được sản xuất tại công ty của con gái trong gia đình đã được sát nhập vào nhóm ICA mà sau này trở thành một phần của thương hiệu Zeiss Ikon.
Sau Thế chiến thứ II, nước Đức phân chia thành hai miền, công ty cũng bị phân chia thành hai, Jena được ở phần phía Đông của nước Đức.
Một phần thứ hai được thành lập ở Tây Đức và có trụ sở tại Oberkochen, và vẫn lưu giữ dưới nền tảng là Zeiss.
Các phần khác của công ty vẫn còn lại ở Jena, nhưng nhanh chóng bị mất quyền sử dụng tên gọi thương hiệu giống như Zeiss truyền thống là ống kính nổi tiếng.
Ở phía Tây Đức sản phẩm được gọi là aus Jena (có nghĩa là từ Jena), và được sử dụng từ viết tắt rõ ràng, hoặc các tên khác để nhắc nhở vào quá khứ của tiền thân (ví dụ: T cho Tessar, S cho Sonnar)
Trong khi đó thuộc khối Đông Đức, họ tiếp tục sử dụng tên đầy đủ.
Sau chiến tranh, ở phía Tây Đức thì Carl Zeiss tại Oberkochen vẫn làm ống kính cho các máy ảnh Zeiss Ikon, nhưng họ cũng đã làm thêm những ống kính chuyên dụng cho một số hiệu máy ảnh khác. Và họ tiếp tục làm như vậy, đặc biệt là cho Rollei và Hasselblad.

Những ống kính Zeiss cho dòng máy ảnh định dạng cỡ trung bình ( medium format SLR cameras ) Hasselblad đã được sử dụng bởi nhiều nhiếp ảnh gia nổi tiếng, và được biết đến với chất lượng cao, dung sai chính xác, độ phân giải, và khả năng ghi nhận về màu sắc.
Từ năm 1973, Carl Zeiss đã thực hiện việc sản xuất một loạt các ống kính cho máy ảnh 35mm SLR với ngàm gắn cho Yashica và Contax, họ cộng tác với công ty của Yashica và kết quả là ống kính Zeiss T * đã được thực hiện cả ở Đức và theo giấy phép của Đức tại Nhật Bản, và từ đó họ phát triển một danh tiếng của chất lượng quang học tuyệt vời.
Kyocera ( tên môt tập đoàn cùa Nhật ) họ mua Yashica, sau này hợp tác với Zeiss để giới thiệu ống kính Zeiss T * khác, có ngàm cho phép lấy nét theo đo khoảng cách (rangefinder) và có cả tự động lấy nét.
Nhưng vào năm 2005, Kyocera ngừng sản xuất tất cả các máy ảnh và ngừng việc tiếp thị của ống kính Carl Zeiss.
Và gần đây nhất, Carl Zeiss đã làm sống lại huyền thoại mang tên Zeiss Ikon bởi một loại máy ảnh rangefinder mới, với ống kính Carl Zeiss được thiết kế và sản xuất bởi hãng Cosina tại Nhật Bản, và hãng Sony cũng chọn ống kính Zeiss sử dụng cho máy ảnh kỹ thuật số của mình.

Zeiss Ikon
Zeiss Ikon
Cosina Carl Zeiss
Cosina Carl Zeiss

Chú thích:
* Karl Ernst Abbe (Sinh ngày 23 tháng 1 năm 1840 – mất ngày 14 tháng 1 năm 1905)
Là một nhà vật lý Người Đức, chuyên viên đo mắt, doanh nhân, và cải cách xã hội. Ông đã cộng tác cùng với Otto Schott và Carl Zeiss, đặt nền móng cho quang học hiện đại.
Karl Ernst Abbe, Ông cũng là một đồng chủ sở hữu của Carl Zeiss AG, một nhà sản xuất kính hiển vi, nghiên cứu và phát triển các dụng cụ, hệ thống quang học khác của Đức.

2. AF-S Nikkor 70-200mm F/2.8G ED VR II (N)

  • Soạn giả : apham (Vnphoto.net)

So với ống kính AF-S Nikkor 70-200mm F/2.8G ED VR sản xuất năm 2003 thì phiên bản AF-S Nikkor 70-200mm F/2.8G ED VR II được Nikon thiết kế lại hoàn toàn mới, kể cả hình thức bên ngoài.

Với khẩu độ 2.8 không đổi, được thiết kế dành cho những thân máy sử dụng bộ cảm biến FX (Full-Frame), hệ thống thấu kính hoàn toàn mới với 7 thấu kính ED (Extra-low Dispersion) giảm thiểu tối đa quang sai được giới thiệu với khả năng mang lại độ nét hoàn hảo từ phần trung tâm tới phần rìa ảnh và công nghệ phủ Nano Crystal chống lóa sáng. Công nghệ chống rung mới trên ống kính thế hệ II được Nikon cho biết có khả năng bù tới 4 stop so 3 stop của phiên bản cũ. Một điểm cải tiến là ống kính thế hệ mới được bổ sung thêm chế độ A/M bên cạnh hai chế độ M/A và M truyền thống. Chế độ này cho phép kể cả khi lấy nét tay, thì cơ chế lấy nét tự động vẫn được ưu tiên trước, điều này hỗ trợ để người sử dụng tinh chỉnh để lấy nét nhanh hơn.
Ống kính AF-S Nikkor 70-200mm F/2.8G ED VR II mặc dù ngắn hơn nhưng nặng hơn so với ống kính trước và được bao bọc kỹ lưỡng để tránh bụi và hơi ẩm tốt hơn.

Thông số kĩ thuật:

AF-S Nikkor 70-200mm F/2.8G ED VR
AF-S Nikkor 70-200mm F/2.8G ED VR
Tiêu cự: 70-200 mm , ngàm Nikon-F
Độ mở tối đa: f/2.8, tối thiểu f/22
Cấu tạo: 21 thấu kính, 15 nhóm, trong đó có 5 thấu kính ED
Góc nhìn: 34° - 12° (trên FullFrame)
Khoảng cách lấy nét: 1,5m - vô cực
Số lá khẩu: 9 lá
Motor lấy nét: Silent Wave Motor
Kích cỡ kính lọc: 77mm
Kích thước: 87 x 215 mm
Chống rung: 3 stop
Trọng lượng: 1470g
Phụ kiện kèm theo: cap Ф77mm, cap sau LF-1, hood HB-29, case CL-M2
Giá: khoảng 1600USD

AF-S Nikkor 70-200mm F/2.8G ED VR II

Tiêu cự: 70-200 mm , ngàm Nikon-F
Độ mở tối đa: f/2.8 , tối thiểu f/22
Cấu tạo: 21 thấu kính, 16 nhóm, trong đó có 7 thấu kính ED
Góc nhìn: 34°20’ - 12°20’ (trên FullFrame), (22°50’ - 8° với định dạng Nikon DX)
Khoảng cách lấy nét: 1,4m - vô cực
Số lá khẩu: 9 lá
Motor lấy nét: Silent Wave Motor
Kích cỡ kính lọc: 77mm
Kích thước: 87 x 209 mm
Chống rung: 4 stop
Trọng lượng: 1540g
Phụ kiện kèm theo: cap Ф77mm, cap sau LF-1, hood HB-48, case CL-M2
Giá: 2500USD
 
Vài so sánh giữa 2 phiên bản

Về hình thức, AF-S Nikkor 70-200mm F/2.8G ED VR II có thiết kế ngắn hơn so với phiên bản AF-S Nikkor 70-200mm F/2.8G ED VR, nhìn không thuôn dài thanh thoát như phiên bản cũ và có vẻ mập mạp gần giống với lens Nikon 80 - 200 AFS. Vì được thiết kế ngắn hơn nên Hood cũng ngắn hơn,các chấu của Hood được bo tròn nên không để lens xuống đất được như phiên bản cũ, có vẻ như đây là một điều bất tiện. Bù lại ở phiên bản này khi gắn hood được khóa tốt hơn phiên bản trước, hood của phiên bản trước hay bị rơi do khóa không chắc.

Việc được thiết kế ngắn hơn khiến lens gọn gàng hơn, ta có thể tận dụng chỗ ngắn hơn này để để được 1 Tele converter 1.7x trong ba lô.

Bên cạnh việc bổ sung thêm chế độ A/M bên cạnh hai chế độ M/A và M truyền thống khiến việc lấy nét thuận lợi hơn, Nikon lại bớt đi nút khóa focus ở đầu ống kính. Với cá nhân tôi ít dùng tính năng này vì tôi thiết lập khóa focus trên thân máy nên không coi đây là một bất tiện.
Vòng zoom và vòng lấy nét rất nhẹ nhàng, hy vọng nó sẽ không bị kẹt zoom như lô hàng đầu tiên của ống kính Nikon 24 - 70. Vòng zoom được thiết kế để xoay từ tiêu cự 70 đến 200 rất nhanh chóng.

Khi gắn AF-S Nikkor 70-200mm F/2.8G ED VR II trên thân máy D3, nhìn bộ đôi này rất cân đối.
Tuy nhiên, trọng lượng của bộ đôi này lên đến hơn 3kg là một điều thật đáng ngại khi phải di chuyển nhiều ngày liên tục.

3. Tamron SP AF 70-300mm F4-5.6 Di VC USD

Soạn giả :  admin ( Vnphoto.net)

Ống kính Tamron SP AF 70-300mm F4-5.6 Di VC USD được thiết kế dùng cho máy ảnh kỹ thuật số có kích thước cảm biến hình ảnh APS-C DX hoặc 35mm full frame FX. Khi gắn trên thân máy cảm biến hình ảnh kích thước 35mm, tiêu cự thay đổi được toàn dãy từ tầm trung bình 70mm đến 300mm. Khi gắn trên thân máy có cảm biến hình ảnh kích thước APS-C thì tiêu cự tương đương từ 109mm đến 465mm.

Trang bị đi theo ống kính khá cơ bản bao gồm hood và cap, sử dụng filter 62mm

- Ống kính sử dụng thấu kính tráng phủ XLD (Extra Low Dispersion) được sản xuất từ thủy tinh cao cấp có tính chất tán sắc thấp hơn thấu kính chuẩn LD, giúp tạo hình ảnh sắc nét và trong sáng
- Ống kính trang bị Môtơ lấy nét trong Ultrasonic Silent Drive (USD) thay vì sử dụng motor truyền động từ thân máy, giúp cho việc lấy nét siêu nhanh và êm ái so với tất cả ống kính Tamron trước đây
- Ống kính có chức năng chống rung Vibration Compensation (VC) mà chúng ta đã quen thuộc qua các sản phẩm thử nghiệm trước như Tamron 18-270mm, công nghệ này giúp hỗ trợ chụp ảnh ở tốc độ chậm hơn 4 khẩu so với tốc độ cần thiết trên tiêu cự của ống kính và đã được kiểm chứng hoạt động rất tin cậy

Các nút chức năng trên ống kính để bật tắt chế độ USD và VC

 

 

Thông số kỹ thuật
Tiêu cự 70-300mm
Khẩu độ lớn nhất F/4-5.6
Khẩu độ nhỏ nhất F/32-45
Cấu trúc ống kính 17 thấu kính / 12 nhóm
Khoảng cách lấy nét gần nhất (MFD) 1.5m
Số lá khẩu độ 9
Cân nặng 765 grams
Sử dụng cho ngàm Canon, Nikon, Sony

Ống kính có kiến trức rất chắc chắn và cứng cáp đặc biệt khi so với ống kính cùng tầm Nikon 70-300mm f/4-5.6 VR, khi sử dụng thức tế cầm rất đầm tay trên tiêu cự 300mm

4. Leica

  • Tác giả: Uyle

 

Đối với những say mê nhiếp ảnh, ít ai không biết đến Leica vì cái tên này dính liền với nhiều nhiếp ảnh gia nổi tiếng trong lỉnh vực photojournalism, Nick Út, HCB, Capa. Chiếc máy Leica cũng là dòng máy được ưa chuộng bởi những nhân vật nổi tiếng như nữ hoàng Elizabette với M3, Vua Thái với M6. Thật ra điều này không có gì lạ vì ngay từ khi mới bắt đầu SX ở khoảng 1930, Leitz đã có chủ trương tạo một chiếc máy chất lượng cao và bán giá thật cao như một luxury item để chỉ có những người giàu hoặc nổi tiếng mới mua nổi. Và những người này sẽ giúp quảng cáo cho Leica như một món hàng đặc quyền cho giới thượng lưu quí tộc. Điều này có thể xảy ra được ở thời đó vì Leica là sở hửu của riêng gia đình Leitz và lúc đó Leitz company đã là một hãng đứng hàng đầu trong quang học và những công nghệ đòi hỏi độ chính xác cao, microscope, máy quay film. Với khoảng 40 năm, Leica đã thành công với đặc điểm của những máy rangefinder, sự tiện dụng của film 35mm và hàng ngũ OK hùng hậu (nhưng đồng nhứt đến mức chiếc máy MP sản xuất năm 2007 vẫn dùng được OK Elmar 3.5 đã sản xuất hơn 70 năm về trước).
Ngày nay, Leica rangefinder không còn là phương tiện tối ưu cho nhiều lĩnh vực nhiếp ảnh nhưng xét về mặt kỷ thuật, thì những chiếc máy leica và OK sx từ 50 năm về trước vẫn có thể tạo nên những tác phẩm không hề thua kém những chiếc máy hiện đại ngày nay.

Ngày nay, giá của Leica đã xuống thấp vừa tầm tay những người bình thường, chỉ bằng DSLR hạng xoàng. Tuy không tiện dụng như digital, nhiều người vẫn hâm mộ Leica vì cái êm ái, trong trẻo của rangefinder và người ta cho rằng RF khiêm nhường, kín đáo hoặc dễ tạo nên sự gần gủi cởi mở giửa người chụp và đối tượng.
Riêng tôi thì tôi thì mê máy và OK Leica bởi những chi tiết máy móc cầu kỳ, xi mạ bóng loáng và nhất là với lịch sử hơn 70 năm phát triển, mình có dịp nhìn thấy những bước sáng tạo đổi mới. Đó cũng là một cách để học hỏi cái hay, cái khéo của người xưa.

Cái khoái lớn nhất khi dùng Leica là bạn có thể xử dụng được nhiều OK từ các nhà sản xuất camera vì hầu hết các nhà SX đều có OK đặc chế cho leica, từ Zeiss, canon, nikon cho đến konica, pentax, komura, minolta, rollei, voightlander. Nghe nói tổng cộng gần 300 OK đủ loại. Thường thì các OK này dựa theo vài nhóm chính dựa theo các công thức quang học căn bản như Planar(Canon, Zeiss, Pentax(?)), Sonnar (Zeiss, Rollei, Nikkor), Gaussian (leica), Heliar(Voightlander). Mỗi công thức dĩ nhiên có những ưu, nhược điểm khác nhau không những về resolution mà lại còn khác nhau về bokeh, color renditionhoặc khả năng chống flare. Vì vậy mà hầu hết những người mê leica thường bị cuốn hút vào cái tật mê thiết bị chỉ vì những sự lựa chọn quá phong phú này.

Ngoài leica summicron thì OK LTM mà tôi thích nhất là Nikkor-SC 50F1.4 và Nikkor-H 50F2.0. Đây là OK căn bản của Nikon RF nhưng được đặc chế với LTM đi kèm theo máy Nicca. Tuy cùng tên nhưng khác hẳn các OK dùng cho máy SLR vì nó rập khuôn theo công thức Sonnar từ Zeiss Contax. Với đặc tính là rất nét ở cự ly gần từ 1-2 mét, bokeh rất mạnh. Về bên ngoài thì OK này tuy ngắn hơn summicron một tí nhưng rất nặng, đằm tay và focus ring thì êm ái vô cùng.

5.Tokina AF 50-135mm f/2.8 AT-X Pro DX (For Nikon)

Tác giả :

Tokina AF 50-135mm f/2.8
Tokina AF 50-135mm f/2.8

Các ống kính 70-200 f2.8 hoặc 80-200 f2.8 huyền thoại của Nikon thì ai cũng đã biết qua, chất lượng cực kỳ tốt, nhưng đây là các ống dành cho dòng máy FX 35mm, ống kính thường rất nặng (khoảng 1,4 kg) và giá cả thì ko hề dễ chiu. Vậy với những người dùng dòng máy DX và túi tiền ko rủng rỉnh thì sao? Câu trả lời : Tokina AF 50-135mm f/2.8 AT-X 535 Pro DX là 1 sự lựa chọn hợp lý cho chất lượng, giá cả, hơn nữa ống kịnh lại gọn và nhẹ hơn rất nhiều.

Tokina AF 50-135mm f/2.8 AT-X 535 Pro DX là sản phẩm kết hợp giữa Tokina và Pentax, ống kính này thời gian đầu chỉ dành cho máy Pentax nhưng hiện tại đã sản xuất cho cả Nikon và Canon. Đây là ống kính 50-135 f/2.8 dành cho dòng máy DX nên tiêu cự tương đương với ống 80-200 trên máy FX 35mm. Tokina AF 50-135mm f/2.8 là đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Sigma AF 50-150mm f/2.8 EX HSM DC.

* Tokina AF 50-135mm f/2.8 AT-X 535 Pro DX trên D300, có hood vào trông cũng rất hầm hố và Pro ko kém 80-200mm f/2.8


Tokina AF 50-135mm f/2.8 thuộc dòng ống kính cao cấp AT-X Pro (Advanced Technology-Extra Professional) của Tokina nên chất lượng quang học của các thấu kính rất tốt , body chắc chắn cầm rất đầm tay. Thấu kính ngoài cùng đựoc phủ 1 lớp chống nước mới (Waterproof) giúp cho việc lau các vết vân tay hoặc hạt nước 1 cách dễ dàng và hiệu quả hơn các lớp phủ multil-coating sử dụng trước đó.

*Đối thủ Sigma AF 50-150mm f/2.8 EX HSM DC:

Sigma AF 50-150mm f/2.8 EX HSM DC
Sigma AF 50-150mm f/2.8 EX HSM DC

 

Các thông số kỹ thuật của ống:
- Ngàm : Canon-EOS, Nikon-D
- Tiêu cự : 50-135mm
- Khẩu độ: f2.8-f32
- Cấu tạo quang học : 18 thấu kính chia làm 14 nhóm
- Góc mở : 31°3’-11°8’
- Khoảng cách lấy nét gần nhất : 1m
- hệ số phóng đại : 1:5,9
- Khẩu độ đóng mở bằng 9 lá thép
- Filter size : 67mm (ko xoay khi lấy nét)
- Kích thước : 78,2mm & 135,2mm
- Khối lượng : 845g
- Có tripod-mount gắn trên thân ống

Performance :
Bài review này được đánh giá trên máy Nikon APS-C DSLR.

* Lấy nét (Focus) :
Tokina AF 50-135mm f/2.8 ko sử dụng “internal AF motor” nên ko thể auto-focus trên các dòng máy D60/D40/D40x, lấy nét nhanh và chính xác trên D200 và D300. Có 2 chế độ lấy nét là AF và MF, để chuyển chế độ lấy nét chỉ cần đẩy vòng lấy nét lên hoặc xuống, thao tác vô cùng nhanh và thuận tiện. Vòng lấy nét cho cảm giác êm và nhẹ nhàng.

*Vòng zoom cũng rất êm và nhẹ nhàng, ko có vòng khẩu độ “aperture ring”, tripod-mount ko thật sự cần thiết và ko sử dụng nhiều do ống kính ko quá nặng, nhưng có thì vẫn tốt, vì biết đâu có lúc cần dùng, tripod-mount ko tháo riêng ra được nhưng có nút điều chỉnh để có thể xoay lên phía trên & đỡ vướng tay đỡ ống kính

*tripod-mount có thể xoay lên phía trên :


*Hiện tượng biến dạng (distortion) :
Được kiểm soát khá tốt, có hiện tượng này ở tiêu cự 50mm & 135mm nhưng rất ít, khó có thể nhận ra.

* Hiện tượng đen bốn góc :
xuất hiện ở f2.8, và tăng lên khi tiêu cự tăng (tức là nhiều nhất ở 135mm), tuy nhiên hiện tượng này cũng ít và chấp nhận được..

* Hiện tượng quang sai viền tím :
ít ở tiêu cự 85mm, riêng ở 50mm & 135mm thì ”viền tím xuất hiện ở những nơi tương phản cao. Mặc dù khép khẩu độ đến f/5.6 hay f/8 vẫn không giảm bớt. Tuy nhiên nếu chụp trên những máy Nikon mới ra sau này có chức năng tự sửa CA thì vấn đề này không quan trọng lắm”. .

* Độ sắc nét :
Ống kính này cho ảnh nét & đẹp với gần như tất cả dải tiêu cự, đặc biệt là ở khẩu độ từ f4-f8, sắc nét nhất là ở f5,6. Chất luợng có giảm đôi chút ở 135mm f2.8.

*Bokeh : nói chung là đẹp và mượt

Kết luận:
Tokina AF 50-135mm f/2.8 AT-X 535 Pro DX là 1 ống kính tốt, body chắc chắn và cho ảnh chất lượng, so với đối thủ Sigma 50-150 f2.8 thì lấy nét ko nhanh bằng nhưng về khoản chất lượng ống kính & body thì chắc chắn là nhỉnh hơn, nếu dùng trên dòng dxx như d200 hay d300 thì tốc độ lấy nét & độ chính xác ko có gì phải phàn nàn cả.

Ông kính này cho chúng ta 1 dải tiêu cự khá hay từ zoom ngắn đến trung bình, chúng ta có thể chụp những bức ảnh chân dung toàn thân hay chỉ lấy mặt, chụp ngoài trời (bokeh đẹp) họặc cả trong nhà (mặc dù f2.8 hơi thiếu nhưng chấp nhận được). Ống kính gọn và ko quá nặng, nên có thể cầm lâu, đi loanh quanh chụp cảnh đời thường và ở 135mm ta có thể có những bức ảnh close-up.

Với giá mới tầm 550-600$ thì đây là 1 ống kính đáng đầu tư, chỉ số “Price/performance” của nó được đa số các trang web review nổi tiếng đánh giá là “cực kỳ hợp lý” .

*Sau đây là 1 vài hình test ống kính  ( ISO auto & WB auto):

*135mm f2.8
*135mm f2.8
*85mm f2.8
*85mm f2.8
*50mm f2.8
*50mm f2.8
*close-up 135mm f2.8
*close-up 135mm f2.8
*50mm f3.5
*50mm f3.5
*50mm f8
*50mm f8
*135mm f2.8
*135mm f2.8

Đọc thêm ở Trang Web chính :  trancongquoi.jimdo.com

 

Home