truheredudor

* Visitos since June 2011

free counters

* Visitos since February 2013

Flag Counter

Phone :

0903884387

Kiến thức Nhiếp ảnh 3

 

Special thanks to The Masters all over the world, these are for study only

Những hình ảnh - bài viết và hình ảnh trích đăng sau đây chỉ với tinh thần học hỏi. Xin các bậc Thầy niệm tình bỏ qua. Trân trọng cám ơn

MỤC LỤC - CONTENT

KIẾN THỨC CƠ BẢN

  1. Các thể loại Nhiếp ảnh
  2. Xóa phông và khống chế độ nét
  3. Sử dụng nhanh máy ảnh DSLR 
  4. Sony Nex5
  5. Ảnh đời thường biết nói

 

1. CÁC THỂ LOẠI NHIẾP ẢNH

  • Tác giả: SUNF

 

ẢNH NGHỆ THUẬT - FINE ART PHOTOGRAPHY Ảnh nghệ thuật là một thuật ngữ thường mô tả dòng ảnh in chất lượng cao, thể hiện nhân sinh quan - thế giới quan, và những sáng tạo của một nghệ sỹ nhiếp ảnh. Thường những tấm ảnh nghệ thuật được in với số lượng hạn chế để bán cho những người sưu tầm, những người chơi ảnh, chứ thường không không in với số lượng lớn như ảnh quảng cáo hay như ảnh báo chí... Những bức ảnh này có thể (tất nhiên không phải lúc nào cũng vậy) được triển lãm hoặc được treo trong những gallery nghệ thuật. Vào thế kỷ thứ 19, những nhiếp ảnh gia nổi tiếng thời Victorian về "ảnh nghệ thuật" có thể được kể tới Julia Margaret Cameron, Charles Lutwidge Dodgson, Oscar Gustave Rejlander, và một số nhiếp ảnh gia khác... Thế kỷ thứ 20 bắt đầu bằng xu hướng ảnh nghệ thuật "hướng họa" (Pictorialism) với các kỹ thuật để bức ảnh trông càng giống bức tranh càng tốt. Tuy nhiên, xu hướng này nhanh chóng bị lãng quên bởi những giá trị ít ỏi không mang tính đặc trưng của nhiếp ảnh. Ngày nay, xu hướng này đã hoàn toàn bị coi là "lạc mốt". Trong thế kỷ 20, nhiếp ảnh nghệ thuật bắt đầu được chấp nhận ở thế giới nghệ thuật phương tây, và ảnh nghệ thuật đã có chỗ đứng trong những phòng tranh/phòng ảnh nổi tiếng. Tại Mỹ, chúng ta có thể kể đến một số nhiếp ảnh gia nghệ thuật lớn như Alfred Stieglitz, Edward Steichen, John Szarkowski, và Hugh Edwards. Vào những năm 197x, nhiều phòng tranh nghệ thuật bắt đầu chấp nhận cả những bức ảnh tư liệu và báo chí có giá trị nghệ thuật cao. Từ khoảng năm 1975, bắt đầu có những gallery chuyên về ảnh nghệ thuật. Trong những phòng ảnh này, cả hai thể loại ảnh nghệ thuật và ảnh tư liệu đều được xuất hiện và giới thiệu song song.

Cho tới cuối những năm 70, những xu hướng ảnh nghệ thuật chính có thể chia làm mấy loại: Ảnh khỏa thân, ảnh chân dung, ảnh phong cảnh. Vào những năm này, những nhiếp ảnh gia nghệ thuật được coi là "ngôi sao" có thể kể tới Sally Mann and Robert Mapplethorpe. Họ vẫn đi theo những thể loại thống trị nói trên, tuy nhiên, với một góc nhìn khá tươi trẻ và độc đáo. Những năm cuối thế kỷ 20, khổ in của ảnh nghệ thuật được tăng lên trông thấy. Những bức ảnh nghệ thuật có thể chiếm cả một bức tường. Ảnh mầu bắt đầu xuất hiện và dần chiếm ưu thế so với ảnh đen-trắng. Tiên phong trong ảnh mầu nghệ thuật có thể kể tới John Szarkowski. Ở Anh, những nhiếp ảnh gia đầu tiên được chấp nhận những bức ảnh mầu như những tác phẩm nghệ thuật có thể nói ngay tới Gilbert & George... Hiện tại, những nhiếp ảnh gia nghệ thuật có xu hướng sắp đặt ánh sáng và dựng cảnh rất kỹ hơn là tìm kiếm những sự ngẫu nhiên trong cuộc sống. Những nhiếp ảnh gia như Cindy Sherman, Justine Kurland, Jan Saudek, Bernard Faucon, hay Anthony Goicolea rất nổi tiếng về nghệ thuật sắp đặt hiện đại của họ. Cùng với sự phát triển của công nghệ ảnh số với Photoshop, những bức ảnh lồng ghép kỹ thuật số cũng bắt đầu có chỗ đứng trong làng ảnh nghệ thuật. Những kỹ thuật hiện đại này được sử dụng rất nhiều trong những tác phẩm của một nhiếp ảnh gia nghệ thuật nổi tiếng John Goto (Ông cũng là một người đầu tiên triển lãm những bức ảnh có kết hợp với âm thanh). Tuy nhiên, những bức hình sử dụng hoàn toàn công nghệ máy tính hoàn toàn không được xếp vào dạng nhiếp ảnh nghệ thuật. Tóm lại, ảnh nghệ thuật đã, và đang có một chỗ đứng vững chắc trong thế giới nghệ thuật. Tuy nhiên, thật buồn vì tính chất "sang trọng" của cụm từ "Ảnh nghệ thuật" mà thời nay, người ta thường lạm dụng triệt để cái nhãn đó để gán cho những loại sản phẩm thấp cấp như nhưng cuốn lịch hoặc những tấm áp phích rẻ tiền...

 

2.  XÓA PHÔNG VÀ KHỐNG CHẾ ĐỘ NÉT

  • Tác giả: giangduydat

Có 3 yếu tố chính ảnh hưởng tới khả năng xoá phông:
+ Khoảng cách
+ Tiêu cự
+ Độ mở ống kính

1- Khoảng cách:
Có một nguyên tắc như sau:
- Hậu cảnh càng xa vật, xoá phông càng tốt và ngược lại - Khoảng cách (từ máy tới chủ thể) càng gần, xoá phông càng tốt Nếu có thể, ta tiến sát vật hay chụp một phần vật, đây là yếu tố “xoá” tốt nhất.

2- Tiêu cự:
Định nghĩa tiêu cự là:
khoảng cách từ film (sensor) đến điểm giữa của ống kính.
Tiêu cự xoá tốt nhất bình thường xếp theo thứ tự là ...135mm>100mm>85mm>50mm>35mm>24mm>… Có nghĩa 135mm xóa tốt nhất (cho trường nét mỏng) và 24mm sẽ xóa "yếu" nhất (cho trường nét sâu)

3- Khẩu độ(độ mở ống kính):
- Khẩu độ càng lớn (f=1.2, 1.4, 1.8, 2.0…) xoá phông càng tốt và ngược lại
- Khẩu độ càng nhỏ (f=32, 22, 16, 11…) xoá phông càng kém do độ nét rất sâu Nếu cùng khẩu độ, cùng tiêu cự thì lens fix xoá tốt hơn lenszoom rất nhiều.

4- Một số vấn đề khác:
* Một chiếc zoom lens rất rẻ tiền như 18-55mm cũng hoàn toàn có thể xoá phông tốt nếu biết vận dụng những yếu tố trên đây:
- Zoom vào 55mm thay vì 18mm hay 24mm…
- Mở rộng nhất f=5.6 (vì lens này chỉ mở được 5.6 ở 55mm)
- Chọn khoảng cách chụp gần vật nhất
- Chọn hậu cảnh xa vật chụp nhất
* Xoá bằng khẩu độ là an toàn nhất, tránh rung
* Xoá bằng tiêu cự là xoá đẹp nhất với bohker tròn trịa ảnh nổi khối
* Xoá bằng khẩu độ kết hợp khoảng cách làm vật nổi bật trên hậu cảnh nhưng rất dễ mất nét vì khoảng rõ nét rất ngắn.

 

 

 

Máy ảnh DSLR
Máy ảnh DSLR
  •   Tác giả: giangduydat

 

3. SỬ DỤNG NHANH MÁY ẢNH  DSLR

 

Với giá thành ngày càng rẻ, các hãng ra đời liên tiếp nhiều Model DSLR với giá thành không cao hơn so với dòng PnS là mấy. Do đó số người dùng DSLR ngày càng nhiều. Thường tâm lí người mới cầm máy sẽ rất thiếu tự tin khi chưa làm chủ được máy. Xin chia sẻ những kinh nghiệm làm chủ DSLR chỉ sau 30 phút training ngắn ngủi. Điều đó tưởng chừng như hoang tưởng nhưng lại hoàn toàn là sự thật.

Tuân thủ theo những lưu ý sau:
1- Chọn chế độ thích hợp trên đĩa chức năng:
Nên dùng P (lập trình tự động không đèn flash) trong thời gian đầu hoặc khi muốn chụp nhanh.
Ở chế độ P khác hoàn toàn với chế độ AUTO (full auto) vì AUTO không hiệu chỉnh được iso, cân bằng trắng...
Dùng chế độ A ( tự động tốc độ):
Ở chế độ này, khẩu độ được chọn thích hợp chủ đề chụp, tốc độ sẽ tự động theo nguồn sáng:
ví dụ: f= 11, 16 nếu chụp phong cảnh. f= 3.5, 4.5, 5.6 nếu chụp chân dung...

2- Hiệu chỉnh thích hợp độ nhạy sáng trên máy:
Đơn vị độ nhạy sáng trên máy ảnh là ISO~ASA, có các tham số: 50-100-200-400-800-1600-3200...
Với trời nắng: chọn ISO 100 Với trời râm chọn ISO 200 Với thời tiết xấu, trong bóng râm, trong cửa nhà: chọn ISO 400 Với phòng sáng, sân khấu có ánh sáng tốt...: dùng ISO 800 hay 1600. Cảnh đêm ngoài trời, ánh sáng yếu...: dùng ISO1600-3200

Một lưu ý căn bản là:
Theo dõi thông số tốc độ >>>Để đạt tốc độ an toàn theo lý thuyết là TỐC ĐỘ = TIÊU CỰ SỬ DỤNG
Ví dụ: Dùng 1 lens 85mm thì cần tốc độ an toàn là 1/85s ~ 1/60s trên máy.
Dùng 1 lens 35mm thì tốc độ an toàn là 1/35s ~ 1/30s trên máy
Dùng 1 lens 200mm thì tốc độ là 1/200s...
Với những ống kính chống rung hay những cách cầm máy thiện xạ, tốc độ lí thuyết chống rung thấp hơn 2-3 fstop.

3- Làm chủ chế độ đo sáng và bù trừ EV tốt để có những file hình đúng sáng:
Hình cần được kiểm soát trên LCD máy chụp mới là chính xác. Quan sát bối cảnh của ảnh chụp, nếu bối cảnh tối hơn chủ thể >>>>Dùng bù trừ hay chế độ đo sáng điểm.
Nếu bối cảnh có chênh lệch tương phản không đáng kể (cảnh ngoài trời, chủ thể là người gối cảnh cây cối, núi non, nhà cửa...) thì không dùng bù trừ sáng mà để ở ngưỡng 0.
Những tình huống ngược sáng hay chủ thể tối hơn hậu cảnh (vật sẫm trên nền sáng - trắng) thì thay cho áp dụng bù +EV (cộng EV) ta thay bằng việc bồi đèn flash (nếu có) sẽ hiệu quả hơn.

4- Chọn tư thế cầm máy chắc chắn, gọn gàng:
Nếu có chỗ dựa, điểm tì cần tranh thủ: tựa vào cây, tường nhà, góc bàn - ghế...để tư thế thêm vững chắc.
Cầm máy đúng tư thế, tay trái cầm đỡ trọng tâm máy (nơi tiếp xúc giữa máy và lens), tì sát máy vào trán.
Bấm 1/2 cò để máy canh nét xong và bấm tiếp để chụp: Không bấm giật cục 1 lần.

5- Bố cục ảnh gọn gàng, tự tin và làm chủ tình thế:
Luôn có bố cục ảnh gọn gàng, không thừa và thiếu.
Đặc biệt lưu ý đến hậu cảnh phía sau chủ thể.
Với các tình huống sự kiện nên làm chủ và đoán trước diễn biến để có vị trí đứng tốt.
Không bấm tràn lan gây tâm lý chán nản với những khung hình chưa ưng ý.
Chỉ nên chụp khi chủ động và khuôn hình đã được chọn đẹp nhất.
bị máy và dụng cụ đầy đủ, tránh những bất ngờ khi thiếu đồ dùng cũng là một yếu tố tâm lí tốt.
tin với thiết bị mình đang sử dụng:
Người mới làm quen máy hay bị yếu tố tâm lí, hay cho là thiết bị của mình chưa tốt nhưng thực ra vấn đề không nằm ở chỗ đó. Một chiếc ống kính rẻ tiền như 18-55mm trong điều kiện bình thường hoàn toàn có thể cho ra những tấm ảnh đẹp, ưng ý, không khác quá nhiều với những ống kính đắt tiền.
Vấn đề vẫn chỉ là tâm lý.

4.SONY NEX-5

  • TCQ  Sưu tầm
SONY NEX-5
SONY NEX-5

The Sony NEX-5 supports 1080i AVCHD video recording, while the NEX-3 is limited to 720p video capture.

A 14-megapixel Exmor APS HD CMOS sensor is responsible for the high quality we found in the images from both cameras, and a new Bionz processor is also hard at work in the two cameras.


Several hot features were brought over from recent Alphas and Cyber-shot digital cameras, including Sweep Panorama, Auto High-Dynamic Range shooting, Handheld Twilight, and Anti-motion-blur modes, each of which strategically combine and align several images into one seamless one. It\'s pretty impressive stuff. As if that weren\'t enough, Sony\'s also announcing an upcoming upgrade (even before the cameras ship!) that will enable a special 3D Sweep Panorama mode that will work with several as-yet unannounced Bravia TV sets coming in July 2010.



Both the Sony NEX-5  3-inch LCD with 921,000-dot resolution. The surprise is that the super-slim LCD tilts up 80 degrees and down 45 degrees for easy viewing. With TruBlack technology borrowed from Sony\'s picture frames, shooting in or out of doors is a pretty good experience.

Though by name the new cameras are Alphas, they no longer use the Alpha mount; instead Sony has christened a new E-mount, for which two lenses will ship right away, both as kit lenses. The first is a fairly standard 18-55mm f/3.5-6.3 lens with Optical SteadyShot, and the second is a 16mm f/2.8 pancake prime lens. Both have a beautiful aluminum barrel in brushed gunmetal gray.

An adapter is available for mounting Alpha lenses, but autofocus will be disabled with the NEX cameras. Two converters will also ship for use with the 16mm lens: an Ultra Wide Converter with a 12mm equivalent view, and a Fisheye Converter.

Finally, an 18-200mm f/3.5-6.3 OSS lens is planned for shipment some time this year.


Both the Sony NEX-5 and NEX-3 accept both Memory Stick Pro Duo/Pro-HG Duo/Pro-HG HX Duo and SD, SDHC, and SDXC media.

NEX-5 with 16mm F2.8 pancake
NEX-5 with 16mm F2.8 pancake

 

 

 

 

Sony is also taking the unusual step of offering adapter lenses for the 16mm F2.8 pancake, which attach via a bayonet mount on the front. In a manner familiar from compact cameras,

NEX-5 with 18-200mm F3.5-5.6 OSS
NEX-5 with 18-200mm F3.5-5.6 OSS

it will be possible to adapt the lens from its usual 24mm equivalent field-of-view using either an ultra-wide adapter to take it to 20mm equivalent, or a fisheye that gives a 16mm equivalent view.

 

 

 

 

VCL-ECF1 16mm equiv. fisheye adapter, which attaches to the bayonet mount of the 16mm F2.8 pancake lens.

 

 

 

 

VCL-ECU1 20mm equiv. ultrawide adapter which attaches to the same bayonet.

Flash

The NEXs don't feature a built-in flash, but do come supplied with a tiny external unit, which draws its power from the camera's main battery - bolt-in, if you like. The HVL-F7S screws into the camera and plugs into the accessory socket above the lens. Its Guide Number of 7m (at ISO 100) puts it on a par with the built-in units on cameras such as the E-PL1 and GF1, significantly lower than that of the Samsung NX10 and most DSLRs, and a world away from the sort of power you usually expect from an external flash.

This is the supplied flashgun for the NEX-3 and 5. Unusually, it screws into position in the accessory socket on the top of the camera using a rather awkward knurled wheel.

While the NEX-5's accessory socket cover fits fairly neatly into the back of the flash, the equivalent on the NEX-3 is larger and doesn't marry up with the flash at all.

 

It is also worth remembering that with the flash attached, the accessory socket is taken up, and cannot be used for anything else, like (for example) the optical viewfinder for the 16mm pancake, or an external microphone. The NEX cameras are also the only interchangeable lens cameras we can think of that don't offer a hotshoe, so there are currently no options for more powerful flashguns or flash triggers.

Body elements

 

 

 

With the lens removed, the lens mount dominates the front of the camera - a side-effect of the large imaging circle required to cover the APS-C sensor

 

 

All control of the camera is via the combined four-way controller/jog dial and the three 'soft' buttons (whose functions change depending on what you're doing).

The screen can be hinged upwards by 80 degrees or downwards by 45 degrees for waist-level or overhead shooting. This allows a more stable hold for movie shooting in particular; however because it's only hinged in one dimension, there's no benefit when shooting stills in portrait format. Because of its 16:9 aspect ratio, the viewing area when shooting stills in 3:2 is relatively small; and perversely the camera doesn't by default use the whole screen for 16:9 either (it's a menu option).

Both cameras have tripod mounts directly in line with the axis of the lens. To keep the size of the NEX-5 down, Sony has whittled-away the area around the mount, reducing the contact area to a bare minimum. We can envisage this causing problems in some instances, for example twisting with heavier lenses in portrait format.

That said, there are no large or heavy lenses for E-mount yet and the Alpha adapter has its own tripod mount.

 

 

5. ẢNH ĐỜI THƯỜNG BIẾT NÓI

  • Tác giả: SUNF

 

Ảnh đời thường - đường phố, nếu chỉ đơn thuần mang tính tư liệu, thì chắc chắn nó chỉ mang tính... tư liệu mà ko có gì hơn. Nghĩa là loại ảnh mà người ta xem xong thì quên ngay, hoặc tệ hơn chỉ xem lướt qua hay thậm chí chẳng buồn xem nữa... Vậy liệu giá trị của những bức ảnh đời thường là ở đâu?

 

Với góc nhìn cá nhân, tôi cho rằng một bức ảnh nói chung thường có giá trị đặc trưng nhất là giá trị của khoảnh khắc. Khoảnh khắc quý giá là đặc điểm khác biệt lớn nhất giữa nhiếp ảnh và hội họa. Khoảnh khắc càng có vai trò cốt yếu trong những bức ảnh đời thường. Khoảnh khắc cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong các thể loại ảnh khác, như chân dung, hay phong cảnh... Một bức chân dung chớp đúng khoảnh khắc sẽ lột tả được nhiều điều về đối tượng. Một bức ảnh phong cảnh hẳn cũng cần thời điểm để có một chùm nắng rực vàng, hoặc phút giây mặt trời chìm xuống một nửa trong chiều hoàng hôn lãng mạn... Nhưng khoảnh khắc cũng chưa phải là tất cả của những bức ảnh, kể cả thể loại ảnh đời thường - đường phố. Đứng từ góc độ của một người xem ảnh, ấn tượng đầu tiên khi ngắm bức ảnh theo tôi là một giá trị đáng kể. Ngoài ra, một bức ảnh đời thường có giá trị phải kể thêm tới lượng thông tin và tính nghệ thuật của bức ảnh. Góc máy và các yếu tố sáng tạo cũng có thể là những giá trị gia tăng cho bức ảnh... Về giá trị của khoảnh khắc thì quá hiển nhiên rồi. Giá trị nghệ thuật thì hơi khó bàn. Tôi chỉ xin xem xét hai yếu tố là lượng thông tin và ấn tượng ban đầu của một tấm ảnh đời thường - đường phố. Những bức ảnh có thể mang lại ấn tượng mạnh cho người xem ngay từ cái nhìn đầu tiên có thể được coi là thành công ở một mức độ nhất định...

Nhưng sẽ không ổn lắm nếu chúng ta cố gắng tìm cách gây ấn tượng một cách dễ dãi. Thí dụ như việc tập trung khai thác các chủ đề về sự nghèo hèn trong xã hội hay những sự kiện đau đớn tang thương của con người. Một người ăn mày ăn mặc rách rưới bẩn thỉu, dĩ nhiên là đáng thương dưới góc nhìn chung của xã hội. Một đứa trẻ đói ăn, thiếu mặc, cũng bẩn thỉu, rách rưới, thò lò mũi xanh, cũng đáng thương lắm chứ ạh. Tôi không phản đối việc tái hiện những góc cạnh khác nhau của xã hội bao gồm cả khía cạnh đói nghèo đau khổ. Nhưng lạm dụng những đề tài này, để tạo ấn tượng cho người xem thì hoàn toàn không ổn một chút nào. Cá nhân tôi cho rằng ấn tượng ban đầu của bức ảnh hoàn toàn có thể được tạo nên bởi một góc máy độc đáo, một cách nhìn sáng tạo, hoặc một kiểu bố cục lạ mắt, mà không nhất thiết cứ phải là ăn mày đường phố hay những cụ già cô đơn nhăn nheo bạc tóc... Dĩ nhiên, có nhiều khoảnh khắc tự thân nó đã mang lại một ấn tượng mạnh. "Chộp" được những khoảnh khắc này thì quá tuyệt vời rồi, phải không bạn? Sau cái ấn tượng đầu tiên khi ta xem ảnh, phải xét tới lượng thông tin mang lại trong bức ảnh đó. Một bức ảnh sẽ thú vị hơn nhiều nếu nó mang đầy ắp thông tin tới cho chúng ta. Tây họ có thành ngữ "Một bức ảnh bằng cả ngàn lời nói". Nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Có nhiều bức ảnh có thể mang lại những ấn tượng ban đầu khá tốt, có thể bằng bố cục, có thể bằng góc chiếu sáng và ánh sáng trong bức ảnh... Nhưng ngoài ra, có thể chúng ta không nhận được thông tin gì nhiều hơn những ấn tượng ban đầu đó. Những bức ảnh như vậy, theo tôi mang nặng chất thơ, chất lãng mạn, hơn là một bức ảnh đời thường "thực sự". Qua những tác phẩm nhiếp ảnh nghệ thuật của Việt nam lâu nay, tôi nghe nhiều người bình luận rằng nhiếp ảnh Việt nam nhiều chất thơ mà thiếu đi phần hiện thực xã hội. Ảnh đời thường tôi quan sát lâu nay cũng vậy.

Phân loại ra, có lẽ ta có thể xếp ảnh đời thường đương đại vào mấy dạng: (1) Ảnh chụp nhanh (snapshot) - mang nhiều tính chất tầm thường, có chăng chỉ có chút giá trị tư liệu, mà phần lớn cũng là không đáng kể. (2) Ảnh thơ (romantic streetlife photography) - Là những bức ảnh đời thường đẹp về bố cục, ánh sáng, mà thiếu hụt phần nội dung, thiếu thông tin, không mang tính phản ánh hiện thực xã hội. (3) Ảnh tư liệu xã hội (social documentary) - Là những bức ảnh phản ánh cuộc sống muôn màu, ghi lại những nhịp sống hàng ngày, mang lại cho chúng ta nhiều thông tin về các khía cạnh khác nhau của xã hội. Những bức ảnh xuất sắc trong thể loại social documentary này xét theo một khía cạnh nào đó, có thể được gọi là những tấm ảnh "biết nói" Bản thân tôi là người thích thơ. Nên tôi cũng thích các thể loại "ảnh thơ". Nhưng chắc chắn là tuyệt vời nhất nếu ta có thể có cả hai tính chất trong cùng một bức ảnh, nghĩa là bức ảnh vừa mang một lượng thông tin lớn, lại vừa nhiều chất thơ... Nhưng dẫu cho bức ảnh có hơn ngàn lời nói, đa phần chúng chỉ lưu giữ lại một khoảnh khắc của cả một câu chuyện, một tiến trình. Nên để bức ảnh đời thường mang đầy đủ thông tin, tiêu đề (title) và chú giải (caption) của bức ảnh cũng là một phần rất quan trọng. Việc bài xích chuyện đặt tên và chú thích cho bức ảnh mà cứ đòi hỏi chỉ một bức ảnh thôi để nói lên nguyên một câu chuyện thực ra là những suy nghĩ và quan điểm ấu trĩ và thật là ngây thơ. Còn một bộ ảnh, một câu chuyện ảnh thì sao? Mảng này có lẽ nhiếp ảnh Việt nam mình còn khá yếu.

Vì sao như vậy lại là một đề tài lớn vượt quá khỏi phạm vi của bài viết này. Thường một phóng sự ảnh phải có một chủ đề xuyên suốt, hoặc phải kể lại một câu chuyện cụ thể nào đó. Tuy nhiên, có rất nhiều những bộ ảnh tôi được thấy thực chất chỉ là một chuỗi (series) các bức ảnh khá là lặp lại về khía cạnh thông tin. Sự khác nhau giữa các bức ảnh trong bộ nhiều khi chỉ là các góc máy... Và thể loại "ảnh thơ" cũng thấy xuất hiện rất nhiều ở các "bộ ảnh" đời thường mà tôi đã từng được chiêm ngưỡng. Suy cho cùng, ảnh cũng là một trong các phương tiện để thể hiện nhân sinh quan, thế giới quan của người chụp ảnh. Sẽ có những nhiếp ảnh gia "yêu thơ", có những nhiếp ảnh gia yêu thích trường phái hiện thực. Cũng có những nhiếp ảnh gia đơn thuần chỉ thích... chụp ảnh! Sản phẩm của họ đa phần sẽ là những bức ảnh chụp nhanh (snapshot). Cũng có thể họ may mắn có được những bức ảnh "xuất thần" trong hàng ngàn bức ảnh chụp nhanh chụp vội của họ. Nhưng tôi nói chung không thích và cũng không đủ thời gian để xem những bức ảnh đời thường chụp vội. Còn lại, tôi thích cả. Cả ảnh đời thường "biết nói", và cả ảnh "thơ"... Miễn là chúng đủ thú vị đối với tôi.

 

Home