truheredudor

* Visitos since June 2011

free counters

* Visitos since February 2013

Flag Counter

Phone :

0903884387

Kiến thức Nhiếp ảnh 4

 

 

Special thanks to The Masters all over the world, these are for study only

 

Những hình ảnh - bài viết và hình ảnh trích đăng sau đây chỉ với tinh thần học hỏi. Xin các bậc Thầy niệm tình bỏ qua. Trân trọng cám ơn

MỤC LỤC - CONTENT

  1. Nói chuyện về CCD Sensor của Digiltal Camera
  2. RAW - Định dạng ảnh số tương lai
  3. Tại sao sử dụng ống kính Zoom ?
  4. Tóm tắt các dòng máy Nikon DSLR
  5. Histogram

NÓI CHUYỆN VỀ CCD SENSOR CỦA DIGITAL CAMERA

 

Tác giả : Khánh Minh

Wednesday, 10. September 2008

Biên tập & Hình ảnh  : TCQ

 

 

 

Pixel (Picture Element) xin hiểu là một điểm chứa dữ liệu như là màu gì, đậm lợt cỡ nào… Các pixel nằm sát nhau tạo ra hình ảnh. Ở thí dụ trong hình bên dưới mỗi đèn LED được coi là một pixel chúng phát sáng theo thứ tự nào đó sẽ tạo ra ảnh hay chữ. Ở đây các LED nằm xa nhau nên các bạn thấy từ chấm một. Nếu như người ta chế tạo những đèn LED thật nhỏ và đặt thật gần nhau thì thì ảnh sẽ sắc nét hơn, sẽ không còn thấy từ chấm khi nhìn từ một khoảng cách đủ xa. Hôm nào các bạn lấy cái kính lúp đặt sát màn ảnh TV hay màn hình vi tính xem thử coi, các bạn thấy chữ hay hình đều được tạo ra bằng các pixel (điểm) phát sáng. Nếu không có sẵn kính lúp, các bạn lấy 1 giọt nước rải lên mặt màn hình vi tính cũng được. Nhớ là 1 giọt thôi nghe, điện và nước không ưa nhau đâu.

 

 

  • Pixel

 

 

  • Sensor

 

 

  • Nguyên tắc
CCD - Charge Coupled Device - hay thiết bị tích điện kép - là một trong 2 loại sensor phổ biến trong máy ảnh. CCD có nhiệm vụ biến đổi quang năng của ánh sáng tới thành các tín hiệu điện nhờ các photodiode và các vi mạch điện bên cạnh các phophotodiode đó
CCD - Charge Coupled Device - hay thiết bị tích điện kép - là một trong 2 loại sensor phổ biến trong máy ảnh. CCD có nhiệm vụ biến đổi quang năng của ánh sáng tới thành các tín hiệu điện nhờ các photodiode và các vi mạch điện bên cạnh các phophotodiode đó

 

 

Từ đó chúng ta thấy rằng nếu số lượng pixel trên tấm ảnh càng nhiều thì ảnh càng sắc nét. Do đó các máy máy chụp hình KTS càng về sau này càng cho phép chụp những tấm ảnh có số pixel cao. Ngày nay máy máy chụp hình KTS thông thường cho ảnh khoảng 7 megapixel . MP là chữ viết tắt của megapixel, một triệu pixel. Ða số chúng ta cho rằng con số này càng lớn thì máy ảnh càng cho ảnh đẹp. Ðiều này vừa đúng vừa sai. Trong bài này tôi muốn nói với các bạn một vài điều về MEGAPIXEL.

Ngày xưa máy hình ghi ảnh vào film âm bản, ánh sáng xuyên qua ống kính và hội tụ vào mặt film. Ngày nay máy chụp hình KTS lấy ảnh vào cái chip có tên là CCD (viết tắt tên tiếng Anh: Charge Coupled Device). Ánh sáng đi xuyên qua ống kính hội tụ vào mặt CCD. Trên mặt CCD là những “điểm” đổi ánh sáng ra tín hiệu điện và từ đó tạo ra ảnh. Chúng ta tạm coi mỗi “điểm nhạy sáng” (Light Sensitive Area) trên mặt CCD tạo ra một pixel trên mặt ảnh. Do vậy cái CCD là bộ phận rất quan trọng trong máy chụp hình KTS mà đa số người mua máy ảnh bỏ qua không để ý tới.


  • Film

 

 

Trên nguyên tắc cái CCD có diện tích càng lớn càng cho ảnh ít noise (nhiễu) và có độ nhạy ISO (ở film âm bản gọi là ASA - độ nhạy sáng) cao. Có điều trái ngược là nếu cái diện tích của CCD sensor lớn thì ống kính máy ảnh phải to, làm cho cái máy chụp hình KTS sẽ to và nặng, trong khi thị hiếu của đa số người tiêu thụ thích máy ảnh gọn và nhẹ. Tới đây quí bạn có thể bỏ qua đoạn ngay bên dưới, mà đọc tiếp ở phần Resolution ở đoạn sau đây.

Các bạn trong nghề thường lưu ý tới độ lớn của cái CCD sensor, nhưng lại lọt vô từ ngữ “bí hiểm” nên đa số cũng chịu thua, hoặc có biết nhưng vẫn chưa rõ ràng. Không tin hôm nào các bạn hỏi thử một người chụp ảnh nhà nghề hay các amateur rằng trong specification của máy ảnh ghi CCD sensor: 1/1.8” nghĩa là sao. Tôi tin là nhiều vị không trả lời minh bạch được. Sau đây là bản trả lời cho con số vô nghĩa nói trên.

Các bạn để ý các con số trong cột CCD type trong bản bên trên. Ðó là những con số bí hiểm, nó được đặt tên theo xưa, lúc sensor là bóng đèn chân không. Hình bên dưới cho thấy vùng lấy ảnh (hình chữ nhật) nằm trên bóng thu hình (vòng tròn). Các bạn chớ tìm hiểu mấy con số kỳ bí này làm chi, chỉ cần biết sensor type 1/2.7” có kích thước là 5,27 mm x 3,96 mm . Hoặc là sensor type 4/3” có diện tích là 18 mm x 13,5 mm.


Sau đây là bản ghi sự liên hệ giữa type và kích thước của cái CCD sensor:

Bây giờ tới chi tiết cần quan tâm. Các bạn thấy ở bảng 1 hai cái CCD sensor cùng là 5.2 MP như nhau, nhưng cái type 1/1.8” có khoảng cách giữa hai pixel là 2.8 µm (1 micron= 1 micrometer = 1/1000000 m), còn cái type 2/3” có khoảng cách giửa hai pixel là 3.4 µm. Cái sensor 2/3” này cho ảnh ít noise hơn cái sensor 1/1.8”. Cái 2/3” có độ nhạy ISO cao hơn cái 1/1.8”. Dân nhà nghề bao giờ cũng chọn máy ảnh có sensor lớn (diện tích) và điều mong ước của họ là cái sensor có diện tích bằng với film 35mm, nghĩa là có diện tích là 36mm x 24mm, Nói thêm một số máy máy chụp hình KTS dSLR (digital single lens reflex) hiện nay được gắn CCD sensor lớn cở tấm film 35mm, và body của nó có thể gắn ống kính của máy chụp film 35 mm ngày trước. Ðó là điều mấy ông thợ nhà nghề ham thích, vì các bạn đó có thể dùng tới các ống kính sắm từ vài ba chục năm trước. Chắc quí bạn tay ngang đọc đoạn nói về CCD này chỉ hiểu lõm bõm thôi, đáng lẽ tôi bỏ nó ra ngoài. Nhưng quí bạn nhà nghề có khi rất quan tâm tới chúng, do vậy tôi viết rõ về con số type vô nghĩa và bí hiểm ra đây luôn.

RAW - ĐỊNH DẠNG ẢNH SỐ TƯƠNG LAI

 

 

Tác giả : Khánh Minh

Monday, 22. September 2008

Biên tập & Hình ảnh  : TCQ

 

 

Nếu là người chơi ảnh số thì chắc hẳn bạn đã quá quen thuộc với các định dạng ghi ảnh như JPG (khá thông dụng), TIFF... Những định dạng này sử dụng kỹ thuật "nén có mất dữ liệu" (lossy compression) nên một phần thông tin ảnh sẽ được lược bỏ để giảm dung lượng tập tin. Nhưng với định dạng RAW thì khác. Tên RAW không phải ghép từ các ký tự đầu, mà chính xác mang nghĩa đen là "còn thô nguyên gốc" (raw). RAW cũng là tên chung cho nhiều định dạng tập tin ảnh riêng của các nhà sản xuất như .CRW, .CR2 của Canon; .ORF của Olympus,; .MRW của Minolta hay .NEF của Nikon...

RAW là gì?

Có thể nói tập tin RAW chứa toàn bộ dữ liệu mà bộ cảm biến trong các máy ảnh số ghi được khi chụp. Mỗi hãng có một phương pháp mã hóa dữ liệu bộ cảm ứng thành tập tin ảnh 'thô' khác nhau nhưng trong tất cả trường hợp, thông tin trong tập tin raw đều được giữ nguyên gốc.

Máy ảnh số sử dụng nhiều công nghệ khác nhau để xử lý, chuyển đổi thông tin nhưng hầu như mọi máy cho phép chụp RAW đều sử dụng bộ cảm biến dạng 'tranh ghép' (mosaic sensor); còn gọi là cảm biến dạng mảng lọc màu (color filter array CFA) dạng 2 chiều. Trong đó, mỗi ô đơn vị biểu diễn một điểm ảnh (pixel) trên tấm ảnh.

Nhưng tế bào cảm quang chỉ có nhiệm vụ qui đổi lượng photon ánh sáng tiếp nhận được thành tín hiệu điện nên thông tin mà tập tin thô nhận được từ mảng lọc màu chỉ là dạng sắc độ xám (grayscale).

 

 

RGB
RGB

Làm thế nào máy ảnh chuyển thành ảnh màu RGB?

Ngoại trừ một số máy ảnh thế hệ mới sử dụng bộ cảm biến Foveon ('Công nghệ Foveon X3 của Sigma' (TGVT A , số 5/2002, Tr.46) có khả năng ghi nhận độc lập ba màu RGB. Hầu hết cảm biến ảnh CCD và CMOS hiện này đều đặt trên mảng tế bào cảm ứng kính lọc màu đỏ, lục, lam và tạo ra hàng triệu tế bào màu nhỏ, xếp xen kẻ nhau theo một trật tự nhất định. Lượng màu lục luôn gấp đôi vì mắt người nhạy với màu lục hơn.

Cửa sổ chỉnh file Raw của Adobe Photoshop
Cửa sổ chỉnh file Raw của Adobe Photoshop

Không chỉ có dữ liệu ghi nhận thông tin điểm ảnh, tập tin RAW còn chứa dữ liệu dạng metadata của bức ảnh chụp. Metadata, về mặt ngữ nghĩa là 'dữ liệu về dữ liệu' (siêu dữ liệu), được máy ảnh tạo ra mỗi khi chụp. Trong metadata, cả hai định dạng JPEG và RAW đều có phần EXIF (Exchangeable Image Format -định dạng ảnh có thể trao đổi) chứa những thông tin về thao tác chụp ảnh như kiểu máy ảnh, số sêri của máy, tốc độ, khẩu độ, tiêu cự, chế độ flash...

Ngoài mỗi giá trị trong thang xám của từng điểm ảnh, đa số định dạng RAW còn chứa một vòng giải mã (decoder ring) trong metadata để chuyển thông tin sắp xếp các bộ lọc màu trong cảm biến cho bộ chuyển đổi (RAW converter). Nhờ đó, bộ chuyển đổi raw có thể chuyển ảnh từ dạng ghi thô thang độ xám thành một ảnh màu bằng cách 'điều chế' nội suy các màu bị thiếu từ các điểm ảnh lận cận với những thuật toán chuyển màu đặc trưng riêng của từng hãng máy ảnh. Tiến trình này được gọi là 'rã ghép' (demosaicing), nhiệm vụ chủ chốt của bộ chuyển dạng, nhưng chưa phải là đã hoàn tất. Quá trình chuyển dạng RAW có thêm các bước sau:

• Cân bằng trắng (white balance) mà bạn xác lập trên máy ảnh số khi chụp không có bất kỳ tác động nào lên điểm ảnh khi chụp ở chế độ RAW; thông tin này chỉ được ghi vào nhận trong metadata. Nhiều bộ chuyển dùng thông tin này để gọi chế độ cân bằng trắng mặc định nhưng có một số tự phân tích lại ảnh để chọn cân bằng trắng tối ưu.

• Diễn giải thước đo màu (colorimetric interpretation). Mỗi điểm ảnh trong tập tin RAW lưu một bộ trị số biểu diễn độ no màu đỏ, lục, lam. Thế nhưng đỏ, lục, lam lại hết sức 'mơ hồ'! Bởi hỏi 100 người thì nhận được đến 100 màu đỏ khác nhau. Có nhiều bộ lọc màu được sử dụng trên các máy ảnh nên bộ chuyển dạng RAW phải gán màu chính xác với thước màu qui ước; ví dụ, thước CIE YXZ được thiết lập theo khả năng cảm nhận màu của con người.

• Hiệu chỉnh gamma. Ảnh lưu theo dạng RAW có gamma tuyến tính (linear gamma) rất khác với sắc độ trên film nên bộ chuyển dạng RAW phải hiệu chỉnh gamma cho phù hợp với khả năng cảm nhận mắt người.

• Các bộ chuyển dạng RAW sử dụng nhiều giải thuật khác nhau để làm giảm hạt, chống răng cưa, bén chi tiết v.v..

JPEG khác RAW ra sao?

Khi bạn chụp ảnh với định dạng JPEG thì bộ chuyển dạng RAW trong máy ảnh số sẽ thực thi tất cả các bước trên để biến ảnh thô thành ảnh màu và nén lại theo chuẩn nén JPEG. Một số máy ảnh cho phép người dùng chọn thông số như thang độ màu (sRGB, Adobe RGB), độ bén, độ tương phản. Đây là công việc nhiêu khê nếu bạn cứ phải thay đổi thông số liên tục từ ảnh này sang ảnh khác nên rất nhiều bạn giao phó luôn cho máy ảnh. JPEG không dành nhiều khả năng chỉnh sửa và do nén thông tin nên khi chỉnh, bạn dễ làm sai lệch các yếu tố khác; trong đó có màu da.

Thế nhưng khi chụp với định dạng RAW bạn có được sự kiểm soát gần như toàn bộ khả năng diễn giải từ các thông tin ảnh. Khi chụp RAW, máy ảnh chỉ chi phối duy nhất đến ISO, tốc độ trập và khẩu độ. Mọi thứ còn lại đều nằm dưới sự kiểm soát của bạn. Ví dụ, bạn có thể cân chỉnh lại cân bằng trắng, độ phân bố màu, sắc độ, độ bén, mịn hạt của các chi tiết,... Thậm chí, bạn có thể cân chỉnh lại độ bù sáng. Hầu hết các máy ảnh chụp RAW đều ghi nhận được 12 bit màu (tương đương 4.096 sắc độ màu) cho mỗi điểm ảnh; trong khi, JPEG giới hạn 8 bit cho mỗi kênh. Vì thế khi chụp JPEG, bộ chuyển dạng của máy ảnh để loại bỏ khá nhiều thông tin có ích.

Ảnh gốc (.jpg)
Ảnh gốc (.jpg)
Dùng Photoshop để chỉnh lại một vài thông số như độ tương phản, sắc độ..., file .raw sẽ cho kết quả thế này (file .jpg)
Dùng Photoshop để chỉnh lại một vài thông số như độ tương phản, sắc độ..., file .raw sẽ cho kết quả thế này (file .jpg)
Olympus Sp350
Olympus Sp350

Ảnh trên được chụp bằng Olympus SP350. Nếu bạn đang sơ hữu một Digital Camera có hỗ trợ định dạng RAW, hãy vào trang chủ nhà sản xuất Digital Camera của bạn để tải về Plugin cho Photoshop để có thể chỉnh sửa ảnh RAW từ máy chụp hình của bạn để được một tấm hình tốt nhất.


Tương quan giữa định dạng JPEG và RAW cũng tương tự film âm bản màu với phim slide. JPEG giống film slide vì ghi nhận chính xác ngay lúc chụp và hạn chế trong khả năng chỉnh sửa về sau. RAW thì giống film âm bản vì cho phép chỉnh sửa độ no màu, cân bằng màu... sau khi chụp. RAW còn ẩn tàng nhiều tiềm năng lớn căn cứ theo những cải tiến bộ chuyển dạng của các nhà sản xuất máy ảnh số.

Ảnh kỹ thuật số đã không còn trong thời kỳ non trẻ nữa, nhưng vẫn chưa đến tuổi trưởng thành. Định dạng JPEG hiện nay là khá phổ biến, tiện dụng, thế nhưng không gian sáng tạo trên JPEG rất khiêm tốn. Mười năm tới sẽ có những thay đổi hết sức quan trọng về bộ lọc màu và định dạng RAW sẽ cho bạn cho bạn khai thác triệt để mọi tiềm năng của ảnh dạng thô. Nhiều người đã gọi định dạng RAW là định dạng ảnh số của tương lai.

ƯU ĐIỂM CỦA RAW
Tại sao nhiều nhiếp ảnh gia chỉ thích RAW mà không hề quan tâm đến JPG hay TIFF? Có 3 nguyên nhân chính:
• Chỉ có định dạng RAW mới hỗ trợ 12 bit màu
• Chỉ có các phần mềm chuyển đổi RAW trên máy tính mới cho phép áp dụng các giải thuật chuyển đổi ảnh màu phúc tạp.
• Chỉ với RAW bạn mới tự do thay đổi các thông số chụp (cân bằng trắng, khử hạt, làm bén chi tiết, level, curve, bù sáng...) để đạt đến một hiệu quả sau cùng cao nhất.

 

 

 

 

 

 

 

 

Một số định dạng ảnh thô (RAW FORMAT) của một số hãng máy chụp hình.

TẠI SAO SỬ DỤNG ỐNG KÍNH ZOOM ?

 

Bài viết và hình ảnh: Nguyễn Thứ Tính 


Khi bạn sử dụng máy ảnh Point and shoot thì hầu hết được trang bị ống kính zoom. Bên cạnh đó, nhiều máy DSLR khi bán ra bộ kit (máy ảnh + ống kính + phụ kiện...) cũng đi với ống kính zoom. Bạn có khi nào hỏi tại sao như vậy không, những ký hiệu 1X, 2X, 3X... trên thân máy có ống kính zoom nghĩa là gì... Vậy  chúng ta hãy cùng nhau trao đổi một số kiến thức chung quanh ống kính này.

Ảnh được chụp bằng ống kính zoom 28-85mm ở tiêu cự 28mm. Tốc độ 1/60s, khẩu độ f/5, ISO 200.
Ảnh được chụp bằng ống kính zoom 28-85mm ở tiêu cự 28mm. Tốc độ 1/60s, khẩu độ f/5, ISO 200.

1. Sơ lược ống kính zoom

Ống kính zoom là ống kính được lắp ráp bằng nhiều thành phần thấu kính cho phép thay đổi tiêu cự của ống kính. Việc thay đổi này sẽ tương ứng với việc ở cùng một vị trí chụp, bạn có thể kéo gần hay đẩy vật thể chụp ra xa mà không cần phải di chuyển. Đây cũng là ưu điểm lớn nhất khi chụp ảnh bằng ống kính zoom. Chúng ta thường thấy ký hiệu "x" trên máy ảnh có ống kính zoom, nó diễn tả tỉ lệ phóng đại của ống kính zoom. Ví dụ ống kính zoom 100-300mm có thể gọi là zoom 3x hay 3:1. Trước đây, những ống kính zoom có chất lượng tốt thường có tỉ số này nhỏ hơn 3 ( như các ống kính zoom 28-70mm, 70-200mm...).  Có 2 loại ống kính zoom trên máy số là zoom quang học (optical zoom) và zoom kỹ thuật số (digital zoom). Zoom quang học phóng đại hình ảnh bằng sự thay đổi cách sắp xếp thấu kính, zoom số thì phóng đại hình ảnh bằng một phép tính nội suy. Vì vậy zoom quang học luôn cho chất lượng hình ảnh tốt hơn zoom số.

Bắt gặp một chú chim tôi đã zoom và chụp liền mà không có thời gian để thay ống kính. Ảnh chụp với tốc độ 1/500s, khẩu độ f/4.5, ISO 200 ở tiêu cự ống kính là 85mm.
Bắt gặp một chú chim tôi đã zoom và chụp liền mà không có thời gian để thay ống kính. Ảnh chụp với tốc độ 1/500s, khẩu độ f/4.5, ISO 200 ở tiêu cự ống kính là 85mm.

2. Zoom một khẩu tốt và đắt tiền hơn

Đối với những máy Point and Shoot và những ống kính zoom bán kèm với kit của máy DSLR thì độ mở ống kính của khẩu độ sẽ thay đổi tùy theo sự thay đổi tiêu cự ống kính. Một ống kính zoom có kí hiệu 7.4-44.4mm 1:2.8-4.8, sẽ có nghĩa là khi tiêu cự của ống kính là 7.4mm thì độ mở khẩu độ tối đa sẽ là 2.8 và khi chuyển sang tiêu cự dài hơn thì độ mở ống kính dần dần nhỏ lại, như tiêu cự 44.4mm thì khẩu độ đối đa chỉ còn 4.8.

Đối với những ống kính zoom khi thay đổi tiêu cự ống kính mà độ mở tối đa của khẩu độ bất biến thì sẽ luôn đắt tiền hơn và cho chất lượng hình ảnh tốt hơn. Ví dụ, một số kí hiệu trên ống kính zoom một khẩu như 70-200mm 1:2.8, 24-70mm 1:2.8...

 


Ảnh chụp khi tôi đang ngồi trên máng trượt với ống kính zoom ở tiêu cự 28mm.
Ảnh chụp khi tôi đang ngồi trên máng trượt với ống kính zoom ở tiêu cự 28mm.

3. Nhỏ gọn và đơn giản

Việc một ống kính zoom sử dụng được nhiều mục đích khác nhau sẽ giúp cho hành lý chụp ảnh của bạn đơn giản và cơ động hơn. Ví dụ trong một buổi chụp mà nhu cầu của bạn chỉ đơn giản là chụp ảnh lưu niệm, ảnh sinh hoạt, ảnh phong cảnh... thì bạn chỉ cần mang theo một ống kính 18-70mm chẳng hạn. Nếu bạn yêu thích chụp chân dung, chụp cận ảnh... thì nên mang theo ống kính 70-200mm. Gần đây, có những ống kính zoom với tầm từ 18-200mm, 18-300mm... thì hầu như dành cho mọi mục đích chụp ảnh.

Ảnh chụp bằng ống kính zoom và máy được đặt lên một tảng đá để chụp ở tốc độ chậm 1/10s, khẩu độ f/22, ISO 200.
Ảnh chụp bằng ống kính zoom và máy được đặt lên một tảng đá để chụp ở tốc độ chậm 1/10s, khẩu độ f/22, ISO 200.

4. Tiết kiệm chi phí

Với ngân sách giới hạn, bạn có thể chọn mua những ống kính zoom tùy theo mục đích sử dụng và vừa túi tiền. Tuy nhiên, những ống kính zoom này khi cầm trên tay bạn sẽ cảm thấy chúng hơi nhẹ, do đa phần các bộ phận đều làm bằng nhựa. Bên cạnh đó, chất lượng ảnh của chúng cũng không so bì được với những ống kính zoom một khẩu. Trước khi mua ống kính zoom nào đó, bạn có thể yêu cầu người bán cho phép mượn một vài ống kính và bạn gắn vào thân máy rồi chụp tại chổ liền. Sau đó bạn về nhà so sánh chất lượng ảnh và quyết định sẽ mua ống kính zoom nào.

 

Ảnh chụp bảng hiệu và đèn một khu phố đêm với ống kính zoom 18-55mm, vừa chụp vừa xoay zoom từ tiêu cự 28mm sang 55mm với tốc độ 1/1.3s, khẩu độ f/5, ISO 200.
Ảnh chụp bảng hiệu và đèn một khu phố đêm với ống kính zoom 18-55mm, vừa chụp vừa xoay zoom từ tiêu cự 28mm sang 55mm với tốc độ 1/1.3s, khẩu độ f/5, ISO 200.

5. Chụp nhanh

Ống kính chỉ có một tiêu cự (ống kính fix) thì luôn cho chất lượng hình ảnh đẹp hơn ống kính zoom. Để có bố cục ưng ý, bạn phải di chuyển nhiều (anh em nhiếp ảnh thường nói đùa là zoom bằng chân), hoặc phải thay một ống kính khác với tiêu cự phù hợp. Dần dần, với sự phát triển của công nghệ thì khoảng cách chất lượng giữa ống kính zoom và ống kính fix đã thu ngắn lại. Vì vậy, ống kính zoom với việc dễ dàng thay đổi tiêu cự chụp ảnh sẽ giúp bạn bố cục, lấy nét... nhanh hơn và chụp nhanh hơn.

6. Dễ dàng và sáng tạo

Nếu bạn chỉ mới bắt đầu cầm máy thì một chiếc Point and shoot hay một DSLR với ống kính zoom đi kèm với bộ kit là đủ rồi . Những ống kính zoom này đã được nhà sản xuất nghiên cứu và cho ra đời nhằm thoả mãn bất kỳ nhu cầu chụp ảnh một cách dễ dàng, sáng tạo và ít tốn kém nhất. Bên cạnh đó, có một số ống kính zoom còn cho phép chụp macro nữa. Một thủ thuật thường được dùng trong chụp ảnh bằng ống kính zoom là vừa chụp vừa xoay ống kính zoom.

Hãy chụp nhiều và sáng tạo theo cách bạn thích với những gì mình có, rồi bạn sẽ quyết định nâng cấp mua thêm ống kính zoom khác.

 

Zoom
Zoom

TÓM TẮT CÁC DÒNG MÁY KIKON  DSLR

 

   

Máy ảnh Nikon DSLR
Dòng máy-Kích thước cảm biến/Thời gian ra đời 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Q1 Q2 Q3 Q4 1 2 3 4 1 2 3 4 1 2 3 4 1 2 3 4 1 2 3 4 1 2 3 4 1 2 3 4 1 2 3 4 1 2 3 4
Dòng máy cao cấp - độ phân giải cao   D1 D1X D2X D2Xs D3
Dòng máy cao cấp - tốc độ cao   D1H D2H D2Hs
Dòng máy cao cấp - cảm biến FX/Full Frame   D700
Dòng máy cao cấp - cảm biến DX   D100 D200 D300
Dòng máy trung bình - cảm biến DX   D70 D70s D80 D90
Dòng máy thông dụng - cảm biến DX   D50   D40x D60
D40
  •  

Nikon Digital SLR timeline (comparison)

 

1999

2000

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

2009

2010

2011

2

3

4

1

2

3

4

1

2

3

4

1

2

3

4

1

2

3

4

1

2

3

4

1

2

3

4

1

2

3

4

1

2

3

4

1

2

3

4

1

2

3

4

1

2

3

4

1

2

 






























































Professional

Flagship

D1

D1X

D2X

D2Xs

 

 

D3X

 

 

D1H

D2H

D2Hs

D3

D3S

Compact

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

D700

 

 

 

D100

D200

D300

D300S

Consumer

Advanced

 

 

 

 

 

D70

D70s

D80

D90

D7000

Mid-range

 

 

 

 

 

 

 

D50

 

 

D40X

D60

D5000

D5100

Entry-level

 

 

 

 

 

 

 

 

D40

 

D3000

D3100

Early models

Nikon Still Video Camera (Prototype, 1986) · Nikon QV-1000C (1988) · Nikon NASA F4 (1991)
Nikon E2/E2S (1995) · Nikon E2N/E2NS (1996) · Nikon E3/E3S (1998)































Full-frame (FX format) camera. — Without an AF motor (needs lenses with integrated motor for autofocus). — HD video capable (Video AF)

HISTOGRAM

  • Tác giả : hpux

Khái niệm histogram rất hay dùng trong xử lý ảnh số, nhưng hình như chưa có tài liệu Tiếng Việt nào nói rõ về khái niệm này. Trong phần review của các máy ảnh số hay có hiển thị histogram, nhưng nhiều người lại không hiểu cái đồ thị đó dùng để làm gì. Thật ra khái niệm histogram rất đơn giản. Đó là một đồ thị với trục hoành là độ sáng và trục tung là số lượng điểm ảnh ở độ sáng tương ứng.



Độ sáng biểu thị tăng từ trái qua phải: phía tay trái là tối, ở giữa là độ sáng trung bình, còn tay phải là sáng nhất. Một số thí dụ như sau:

1. Histogram tốt có hình ngọn núi với độ cao tăng dần từ trái, cao nhất ở giữa và thấp nhất ở bên phải. Điều đó chứng tỏ số lượng điểm ảnh nhiều nhất là ở độ sáng trung bình




2. Ảnh bị quá tối: histogram bị nghiêng về bên trái, có một cái cột gần như thẳng đứng sát trái



3. Ảnh bị quá sáng: histogram bị nghiêng về bên phải, có một cái cột gần như thẳng đứng sát phải




4. Ảnh bị quá tương phản: có hai cái cột nằm ở 2 đầu trái phải



5. Ảnh bị kém tương phản: dải màu bị dồn vào giữa, hai đầu không có gì



6. Sau nhiều lần chỉnh sửa thì phổ của ảnh sẽ bị như thế này:




Mỗi màu trong số 3 màu RGB có một histogram riêng, độ chói (luminance) cũng có một histogram nữa. Có thể thấy các đồ thị này một cách rõ ràng hơn khi dùng một số chương xử lý ảnh. Dễ nhất là dùng Acdsee Pro. Khi cân chỉnh ảnh thì có thể chỉnh trên mỗi histogram riêng để có được các đường đồ thị hài hòa thì tổng thể bức ảnh sẽ đẹp (về mặt màu sắc, độ sáng). Không nên chỉnh nhiều lần vì sẽ làm phổ của đồ thị bị rời rạc ra, tức là đã làm bức ảnh mất chi tiết.