truheredudor

* Visitos since June 2011

free counters

* Visitos since February 2013

Flag Counter

Phone :

0903884387

Kiến thức nhiếp ảnh 6

 

 

Special thanks to The Masters all over the world, these are for study only

 

Những hình ảnh - bài viết và hình ảnh trích đăng sau đây chỉ với tinh thần học hỏi. Xin các bậc Thầy niệm tình bỏ qua. Trân trọng cám ơn

MỤC LỤC - CONTENT

 

MỤC LỤC

  1. LYTRO : MÁY ẢNH " CHỤP TRƯỚC LẤY NÉT SAU "
  2. HIỆU ỨNG MOIRE VÀ KÍNH LỌC AA
  3.  NHÌN THEO CON MẮT CỦA MÁY ẢNH

1 . LYTRO :  MÁY ẢNH  " CHỤP TRƯỚC LẤY NÉT SAU "

  • Bài viết của DUY KỲ ANH
  • Biên tập hình ảnh và Link của TCQ

Chiếc máy ảnh “chụp trước, lấy nét sau” ra đời đã làm sửng sốt cả giới công nghệ. Nhiều ý kiến cho rằng máy ảnh Lytro sẽ tạo ra một cuộc cách mạng trong lĩnh vực nhiếp ảnh. Thế nhưng, thực sự có bao nhiêu phần trăm cơ hội để Lytro tồn tại và thay đổi cục diện thị phần máy ảnh số hiện nay?

 

Lytro và công nghệ trường ánh sáng


Ý tưởng về trường ánh sáng đã có từ năm 1908 khi nhà vật lí học người Pháp Gabriel Lippmann sử dụng một dàn vi thấu kính để “thâu tóm” nguyên một trường ánh sáng mà ông gọi là “nhiếp ảnh tích hợp” (Integral Photographs), ghi nhận được hình ảnh ba chiều của bối cảnh. Từ đó, mở ra một hướng đi mới cho các nhà nghiên cứu về sau.

Đến năm 1992, với sự tiến bộ của kĩ thuật số, phiên bản “số hóa” vi thấu kính của Lippmann do Adelson chế tạo đã ra đời, tuy nhiên nó còn rất nhiều hạn chế về chất lượng ảnh. Phải mất 14 năm sau (2006), Ren Ng - một sinh viên của Đại học Stanford hoàn thành luận án tốt nghiệp của mình với đề tài về công nghệ trường ánh sáng. Ông đã tạo ra loại cảm biến mới khác với cảm biến truyền thống, có thể thu mọi hình ảnh rõ nét từ tiền cảnh đến hậu cảnh.

Nhận thấy cơ hội đầu tư mới, các công ty như New Enterprise, Greylock Partners, Associates và K9 ventures đã rót vốn hơn 50 triệu USD để một công ty vỏn vẹn 45 nhân viên mang tên Lytro chào đời, và vị trí CEO không ai khác là Ren Ng. Nhận được sự trợ lực đủ mạnh, Lytro bắt đầu quá trình nghiên cứu, hoàn thiện và tung ra thị trường chiếc máy ảnh “chụp trước, lấy nét sau”  như hiện nay.

 

Với những bức ảnh chụp bằng máy ảnh Lytro, người dùng toàn quyền quyết định điểm lấy nét trên màn hình (điểm nét chính là điểm có độ rõ nét cao hơn các phần còn lại của bức ảnh). Lytro có khẩu độ f 2.0, zoom quang 8x; cảm biến trường ánh sáng 11 triệu tia. Lytro sử dụng thẻ micro USB. Trên thị trường hiện có phiên bản 8GB (có thể chụp được hơn 300 bức) và 16GB.

Đi kèm máy ảnh Lytro là một phần mềm chỉnh sửa, cho phép bạn tự động chỉnh lại tiêu cự trên máy ảnh hoặc máy tính. Định dạng ảnh chụp của Lytro không phải là RAW hay JPEG như các máy ảnh thông thường. Bạn cũng có thể trích xuất ảnh ra dạng JPEG sau khi đã “lấy nét” xong để chia sẻ với mọi người.

 

Sẽ có một cuộc cách mạng mang tên Lytro ?

 


 

Nhiều nhận định cho rằng Lytro sẽ tạo ra một “cuộc cách mạng trong lĩnh vực nhiếp ảnh”, giống như cuộc cách mạng điện thoại di động của iPhone. Có thể đấy! Nhưng bình tĩnh và sáng suốt trước một rừng thông tin mang tính chất quảng cáo, bạn nhận ra bao nhiêu phần trăm cơ hội cho Lytro? Quan điểm người viết cho rằng, Lytro chỉ thích hợp với những người hoài cổ hơn là những người yêu nhiếp ảnh hiện đại!

 

 

 

 

Điều này nghe có vẻ khôi hài! Tại sao một công nghệ “mới ra lò” như Lytro lại hợp hơn với những người hoài cổ?

  • Thứ nhất, với một thiết kế khá lạ mắt (dạng ống) và không hỗ trợ nhiều phím chức năng, cũng như chưa hỗ trợ tinh chỉnh tay các thông số như tốc độ, khẩu độ,… liệu nhiếp ảnh gia đương đại hay những người đang dùng DSLR có thể hài lòng và dùng Lytro để sáng tác theo kiểu “ngẫu nhiên”: đưa tay lên chụp và không bận tâm đến việc canh nét. Phong cách chụp “hờ hững” này lại rất giống với trường phái Lomography – dùng những máy ảnh phim cổ đơn giản, chụp tùy hứng không cần quan tâm đến kỹ thuật và phó mặc chất lượng ảnh cho máy ảnh.
  • Thứ hai, với khung hình vuông – một loại khung hình của máy ảnh phim cổ đã “tuyệt chủng” từ lâu, tất cả hình ảnh chụp từ Lytro đều … vuông. Người dùng chẳng thể chụp chân dung “đúng chất” với tỉ lệ 4:3 hay chụp phong cảnh với tỉ lệ 16:9, thậm chí là panorama như những máy ảnh hiện nay. Ảnh vuông cũng không phù hợp để hiển thị toàn màn hình trên máy tính và các thiết bị di động như smartphone hay tablet. Hãy tưởng tượng màn hình máy tính của bạn sẽ khó coi như thế nào nếu bạn dùng một bức ảnh vuông để làm hình nền desktop!

Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận mặt lợi của Lytro. Nhất là với nhu cầu “xóa phông” khi chụp ảnh chân dung. Những chi tiết ở tiền cảnh được làm nổi bật rõ ràng so với hậu cảnh đã được làm mờ đi nhiều bởi phần mềm bên trong Lytro – điều mà người dùng khó thể có được với những chiếc máy du lịch nhỏ. Và nỗi lo hình bị mất nét sẽ không còn khi bạn dùng lytro để chụp ảnh, vì lytro có thể tái tạo nét sau khi chụp và làm cho tấm hình trông nghệ thuật hơn. 

Công bằng mà nói, với một công ty còn non trẻ với nhân lực vỏn vẹn 45 người như Lytro, việc tiên phong ra đời máy ảnh trường ánh sáng là một thành công lớn rất đáng hoan nghênh. Vẫn còn một chặng đường dài để Lytro tiếp tục hoàn thiện và viết nên câu chuyện của riêng mình. Xin dành một tràng vỗ tay dài cho Ren Ng và cho những người làm ra Lytro.

Tôi đặt niềm tin vào công nghệ trường ánh sáng, nhưng không nghĩ hiện tại Lytro sẽ khiến người ta từ bỏ những chiếc máy ảnh số, từ bỏ cả những cỡ ảnh ưa nhìn để làm quen với một cách chụp mới, chỉ để kiểm soát vùng nét tốt hơn.

 

 

Bảng giá

Red Hot
$499  |  750 Pictures - 16GB

Graphite
$399  |  350 Pictures - 8GB

Electric Blue
$399  |  350 Pictures - 8GB

THE CAMERA
The very first light fields were captured at Stanford University over 15 years ago. The most advanced light field research required a roomful of cameras tethered to a supercomputer. Today, Lytro completes the job of taking light fields out of the research lab and making them available for everyone, in the form of the world’s first Lytro Light Field Camera.
.

Lens
The Lytro Light Field Camera starts with an 8X optical zoom, f/2 aperture lens. The aperture is constant across the zoom range allowing for unheard of light capture.

Light Field Engine 1.0
The Light Field Engine replaces the supercomputer from the lab and processes the light ray data captured by the sensor.

The Light Field Engine travels with every living picture as it is shared, letting you refocus pictures right on the camera, on your desktop and online.

Light Field Sensor
From a roomful of cameras to a micro-lens array specially adhered to a standard sensor, the Lytro's Light Field Sensor captures 11 million light rays.

The Light Field

Defining the Light Field
The light field is a core concept in imaging science, representing fundamentally more powerful data than in regular photographs. The light field fully defines how a scene appears. It is the amount of light traveling in every direction through every point in space. Conventional cameras cannot record the light field.
Capturing the Light Field
Recording light fields requires an innovative, entirely new kind of sensor called a light field sensor. The light field sensor captures the color, intensity and vector direction of the rays of light. This directional information is completely lost with traditional camera sensors, which simply add up all the light rays and record them as a single amount of light.
Processing the Light Field
How do light field cameras make use of the additional information? By substituting powerful software for many of the internal parts of regular cameras, light field processing introduces new capabilities that were never before possible. Sophisticated algorithms use the full light field to unleash new ways to make and view pictures.

Relying on software rather than components can improve performance, from increased speed of picture taking to the potential for capturing better pictures in low light. It also creates new opportunities to innovate on camera lenses, controls and design.

About Living Pictures
The way we communicate visually is evolving rapidly, and people's expectations are changing in lockstep. Light field cameras offer astonishing capabilities. They allow both the picture taker and the viewer to focus pictures after they're snapped, shift their perspective of the scene, and even switch seamlessly between 2D and 3D views. With these amazing capabilities, pictures become immersive, interactive visual stories that were never before possible – they become living pictures.

 

 

 

 

1.HIỆU ỨNG MOIRE VÀ KÍNH LỌC AA

  • Tác giả : Nhật Thanh
  • Biên soản : TCQ

Anti-Aliasing filter (low pass filter) là loại kính lọc đặt ngay trước cảm quang máy ảnh, có tác dụng chống răng cưa và những “tác dụng” phụ do cảm quang số gặp phải như hiệu ứng Moiré khi gặp những chi tiết kẻ sọc với khoảng cách vượt quá độ phân giải của cảm quang. Filter này cũng có kèm chức năng lọc tia hồng ngoại (IR).

Có lẽ ít ai để ý tới bộ phận này vì các nhà sản xuất hình như “tránh” nói về nó. Điểm thú vị là không phải chiếc nào cũng trang bị AA filter và không phải cái AA nào cũng giống cái AA nào. Tại thời điểm hiện tại, hầu như tất cả các máy dSLR đều trang bị filter này. Ấy nhưng chiếc Leica M8, M9 và những chiếc Medium Format thì lại không.  

Vậy tác dụng của nó ra sao, và cái giá phải trả khi đặt tấm kính đó ra đằng trước cảm quang là gì? Và lý do nào khiến có chiếc được lắp, có chiếc không? Chúng ta hãy thử tìm hiểu.

Hình chụp bằng Leica M9, sóng Moiré thấy rất rõ ở các trụ tháp.
Hình chụp bằng Leica M9, sóng Moiré thấy rất rõ ở các trụ tháp.
Khi 2 hàng kẻ nhỏ lồng vào nhau
Khi 2 hàng kẻ nhỏ lồng vào nhau

Một trong những nỗi sợ hãi lớn của cảm quang số (so với phim) là với các điểm ảnh xếp theo hàng dọc ngang đều tắp khi chụp một bối cảnh cũng có chứa những đường dọc / ngang (như vải, hàng rào rất xa) với chi tiết nhỏ quá độ phân giải của cảm quang thì có thể xảy ra hiệu ứng sóng moiré rất khó chịu.    (hình minh họa)

Để giải quyết vấn đề này tạm thời có ba giải pháp

a. Xử lý ngay đầu vào (giải pháp quang học – gắn filter)

b. Xử lý hậu kỳ

c. Lắc cảm quang (CCD) giải pháp này hiếm gặp – không bàn chi tiết ở đây.

Trước tiên ta bàn về giải pháp a) mà hầu hết các nhà sản xuất dSLR đều áp dụng xử lý ngay từ đầu đó là gắn miếng kính lọc, miếng lọc được đặt ngay trước cảm quang giúp chẻ tia sáng ra làm 4, làm “nhòe” những tia sáng ở tần số cao (trên tần số Nyquist) và như vậy sẽ gần như triệt tiêu Moire; tuy nhiên cái giá phải trả là hình ảnh mất một chút chi tiết, và cần thiết phải làm nét hậu kỳ để vãn hồi, dĩ nhiên không thể đạt được độ nét ban đầu. Tùy chất liệu (quartz, lithium niobate… ) và tùy kích thước mà miếng kính lọc này dày mỏng, đắt rẻ khác nhau.

Tùy hãng máy ảnh mà họ sử dụng AA filter có độ mạnh hay yếu, tốt nhiều hay tốt vừa, cho từng dòng máy, AA mạnh loại trừ nhiều moiré nhưng sẽ phải trả giá cao bằng độ chi tiết, ngược lại AA yếu đem lại chi tiết nhiều hơn, nhưng khả năng gặp moiré cũng sẽ nhỉnh hơn. Điều này không nhà sản xuất nào công bố rộng rãi, mà chỉ được cảm nhận theo cách chủ quan của người dùng.

 

Một số người dùng đôi khi có nhận xét, hình của họ có cảm giác như có một lớp màn sương nhẹ bao phủ, khó xử lý, và khả năng là do anh chàng AA hoạt động hậu trường hơi “bạo lực”. Trong phần đánh giá chiếc 5D MkII tại Luminous-Landscape, Nick Devlin có đề cập: “But even then, I can’t help but feeling that a very aggressive anti-aliasing filter is at work.  While the 5DII produced beautiful files, they lack the “bite” in the fine detail that a perfectly exposed Phase One files shows.” Tôi không thể không nghĩ tới tác động hơi mạnh tay của kính lọc AA. Tuy 5DII cho file hình rất mượt mà, chúng vẫn thiếu một cảm giác “căng” như những file từ chiếc Phase One - Lưu ý, chiếc Phase One không dùng AA filter.

Có thể nhận xét một cách “cảm tính” rằng, các nhà sản xuất dSLR dựa vào phần đông người dùng phổ thông, chấp nhận giải pháp an toàn (giảm xíu chi tiết nhưng không bị những hình gây shock). Tuy dSLR các dòng cấp thấp và cao có thể sử dụng chung cảm quang, nhưng AA filter thì chưa chắc là chung, và nó là một tham số khá quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng hình ảnh.

Giải pháp  b)

là xử lý hậu kỳ: 

Khi gặp những hình bị Moire, phần mềm sẽ giúp tách biệt cường độ sáng (luminance-chi tiết) với màu (chrominace-sắc) và các nhiễu màu sẽ được tách để xử lý làm mờ đi. Có thể dùng các phần mềm thông thường hoặc phần mềm chuyên dụng khử moiré.

Đương nhiên thi thoảng có một số moiré, artifact rất khó chịu và khó xử lý. Nhưng đây là cách mà những người sử dụng Medium Format sử dụng bởi họ … chẳng có lựa chọn nào khác vì đâu có AA filter, và thực ra cũng hiếm gặp – họ cần độ phân giải hơn. 

Cũng có vài mẹo chụp tránh moiré: nếu gặp phải thì sửa sai bằng cách có thể bố cục lại gần, hoặc lùi ra xa một chút để tránh trùng tần số của dòng kẻ, hoặc nếu không thực sự cần quá chi tiết quần áo thì có thể điều khiển độ sâu trường ảnh (DOF) để nó mờ đi đôi chút và chỉ nhấn mạnh vào khuôn mặt, mắt (khi chụp người chẳng hạn)

 

Vấn đề là ở chỗ moiré không xảy ra thường xuyên, vài trăm hoặc vài nghìn tấm mới có 1 tấm, đặc biệt chụp phong cảnh thì hầu như không gặp. Có một vài hãng đã cung cấp dịch vụ tháo AA filter ở máy DSLR  cho những khách hàng chấp nhận thỉnh thoảng gặp 1 chút moiré nhưng phần lớn hình đem lại độ nét cao hơn. Và phân khúc đòi hỏi chất lượng hình cao nhất (Medium format) các nhà sản xuất cho rằng hiện tượng này không quan trọng tới mức phải hi sinh một chút chất lượng hình ảnh ở tất cả các kiểu chụp, và do đó không trang bị AA filter, trong đó có cả Leica M9 (FF 35mm).

 

 

 

 

 

 

2. NHÌN THEO CON MẮT CỦA MÁY ẢNH

 

 

 

  • Tác giả : Lekima
  • Hình ảnh : TCQ sưu tập

Tại sao lại là "nhìn theo con mắt của máy ảnh" bởi một điều rất đơn giản là máy ảnh nhìn mọi vật theo cách của chúng, khác với chúng ta:

Máy ảnh có thể nhìn thấy vật chuyển động rất nhanh, nhưng chúng ta thì không thể;

Máy ảnh có thể nhìn với những góc lớn, trong khi mắt ta chỉ nhìn đến góc khoảng 46độ (đây là góc cho ống kính tiêu chuẩn);

Máy ảnh chỉ có 1 ISO nhưng trên mắt chúng ta có thể có nhiều ISO tại cùng một thời điểm;

Máy ảnh chỉ nhìn được mọi thứ ở không gian 2 chiều, còn mắt lại nhìn đời ở không gian 3 chiều...

1.Sơ bộ về lịch sử nhiếp ảnh:

Từ rất xa xưa(có tài liệu ghi trước công nguyên khoảng 3 thế kỷ) con người đã phát hiện ra nguyên lý thu hình: Một lỗ thủng bé ở tường nhà cho ánh sáng bên ngoài lọ vào trong phòng tối đã đem theo hình ảnh đối diện nó.

Nguyên lý này đã được Leona De Vinci (Nhà bác học nổi tiếng nhiều lĩnh vực, mà hiện nay quyển sách viết về ông Mật mã De vinci đang bán chạy) nhắc đến năm 1519 khi nói về cách quan sát bầu trời những khi có nhật thực.


Cùng thế kỷ 16 nhà vật lý Morolico đã rút nhỏ không gian buồng tối trên thành hộp tối. Chiếc hộp tối này được làm bằng một cái hộp kín, một mặt ngắn tạo lỗ thủng nhỏ cho ánh sáng đi vào. Mặt đối diện là tâm kính mờ để quan sát.


Vào năm 1568 ông Danielo Barbaro đã sáng chế ra một hộp tối có một thấu kính và một lỗ có thể thay đổi đường kính để tăng độ nét của ảnh. Trước đó mọi người còn biết đến hộp Porta được các hoạ sĩ dùng để vẽ ảnh phóng tranh...


Một hiện tượng ngẫu nhiên như quả táo của Niwton đã đến với nhiếp ảnh đó là vào năm 1727,một nhà khoa học người Đức tên là Schulet khi phơi tờ giấy có tráng muối bạc AgNO3, chẳng may cái lá cây rơi xuống. Một lúc sau thì in rõ hình chiếc lá... Sau đó các nhà Khoa học đã khẳng định nguyên lý nhiễm hình.

Daguerreobtypes
Daguerreobtypes

Và năm 1824 khi Nicéphore Niépce nhaf khoa học người Pháp - người đặc biết chú ý đến các chất nhiễm hình, cộng tác với Daguerre, dùng hộp tối Porta để chụp ảnh. Sự kiện này được coi như đánh dấu sự khai sinh của Nhiếp ảnh, năm đó bức ảnh đầu tiên của Nghệ thuât nhiếp ảnh với thời gian chụp mất 8 tiếng đồng hồ về "nóc phố" được ra đời.

Khoảng năm 1833 khi Nicéphore Niépce mất. Daguerre đã sáng tạo ra máy chụp lấy tên là Daguerreobtypes, đây được coi như là chiếc máy ảnh hoàn chỉnh đầu tiên.

 

2. Sơ bộ về hoạt động của máy ảnh:

Từ Nhiếp ảnh do một người Anh gọi đầu tiên, theo nghĩa gốc La tinh có nghĩa là : Vẽ bằng ánh sáng. Chính vì vậy mà mọi bộ phận của máy ảnh chỉ phục vụ cho ánh sáng mà thôi  .

Còn chụp ảnh được hiểu là sự tổng hợp của các biện pháp về hoá học, vật lý, quang học, thẩm mỹ, tâm lý.. kết hợp lại với nhau để thành một sản phẩm hoàn chỉnh.

Máy ảnh và mắt chúng ta đều có sự hoạt động tương đồng. Chủ đề cần chụp nhờ ánh sáng phản chiếu qua hệ thống dẫn sáng (ống kính, đối với mắt đó là thuỷ tinh thể), lượng ánh sáng vào nhiều hay ít được điều khiến bởi khẩu độ (như chấm đen con ngươi trên mắt người). Qua màn chập (cửa chớp) để điều khiển tốc độ vào của ánh sáng nhanh hay chậm (đối với mắt đó là bờ mi nó chỉ khác máy ảnh là nó lại nằm ngoài). Cuối cùng hiện lên phim (lấy nét sai thì hình ảnh sẽ hiện đằng trước hoặc sau phim, đôí với mắt đó chính là võng mạc).

Mắt chung ta tự điều tiết được con máy ảnh thì không... Ba yếu tố độ nhậy (Iso), khẩu độ (f) , tốc độ (s) là ba yếu tố quan trọng bậc nhất để quyết định tính chất kỹ thuật của ảnh. Các yếu tố khác như đo sáng, cân bằng trắng... cần nắm vững để phục vụ, phối hợp tốt cho 3 yếu tố đầu tiên...

- Cảnh vật nhìn được là do chúng phản chiếu ánh sáng.
- ống kính để truyền ánh sáng.
- Khẩu độ điều khiển khiển về lượng của ánh sáng.
- Màn chập để điều khiển thời gian vào của ánh sáng.
- Phim (cảm biến) là nơi tiếp nhận ánh sáng.

3.Khẩu độ và xác định khẩu độ:

3.1. Khẩu độ (Aperture):

Cái van điều tiết lượng sáng vào máy ảnh này dược gọi là cửa điều sáng, độ mở ống kính và giá trị đo nó được gọi là khẩu độ. Ánh sáng cũng như thời gian nó hình như "vô hình" với con người. Nên đôi khi chúng ta quên nó, không hình dung rõ về nó. Vì vậy để minh hoạ tôi cứ ví như cái vòi nước.

Cửa thoát nước cấu tạo như cửa điều sáng (f nhỏ (1;1.4;2.Cool là cửa mở to và ngược lại). Chúng ta mở to của thoát nước, nước sẽ vào nhiều (tương đương f nhỏ (1.4;2.Cool thì ánh sáng vào nhiều) nhưng lại nước chảy ngay trước vòi (tương đương với Dof ngắn). Còn để lỗ nhỏ nước vào ít (f lớn (16;22) ánh sáng vào ít) nhưng sẽ bắn ra xa hơn (tương đương Dof dài), đây chính là cách để hình dung trực quan nhất về Vùng ảnh rõ (dof)

Khẩu độ ống kính tức là độ mở tương đối của cửa điều sáng.Theo quy ước của hội nghị Nhiếp ảnh quốc tế năm 1909 thì khẩu độ cho máy ảnh từ mở hết cỡ đến đóng hết cỡ như sau:

f/1.4, f/2, f/2.8, f/4, f5.6, f/8, f/11, f/16, f/22, f/32.